danh nhan the gioi

Hiển thị các bài đăng có nhãn danh nhan the gioi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn danh nhan the gioi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Mao Trạch Đông (1893 - 1976)



Mao Trạch Đông - Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, người  đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều người cho rằng những chính sách để xây dựng và phát triển đất nước của ông là không phù hợp, thậm chí là sai lầm nhưng trong triệu triệu trái tim của người Trung Quốc, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi như một nhân vật anh hùng kiệt xuất trong lịch  sử dân tộc, bởi những đóng góp của ông cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là vô cùng to lớn.


Mao Trạch Đông sinh ngày 26.2.893 ở Thiền Sơn tỉnh Hồ Nam, thuộc miền Nam Trung Quốc trong một gia đình thuộc tầng lớp nông dân nghèo. Nhờ buôn bán thóc gạo, dần dần gia đình khấm khá lên và trở thành phú nông.
Cha ông là Mao Thuận Sinh, một người rất nghiêm khắc, gia trưởng và ham mê công việc. Ngay từ khi còn nhỏ, Mao Trạch Đông đã phải làm nhiều công việc vất vả nặng nhọc. Mẹ ông là Văn Kỳ Mỹ, sau khi lấy chồng gọi là Mao Văn Thị, một cô gái Hồ Nam chăm chỉ hiền lành, hết lòng thương yêu chồng con. Bà là người có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cuộc đời của Mao Trạch Đông. Cái chết của bà sau này đã để lại trong lòng Mao Trạch Đông một nỗi đau thương không gì bù đắp nổi.
Cuộc nội chiến ở Trung Hoa đầu thế kỷ 20 đã làm gia đình ông tan tác. Năm 1930, Mao Trạch Hồng, chị gái ông bị bắn chết. Năm 1935, Mao Trạch  Đàm em trai ông cũng bị giết ở Phúc Kiến. Năm 1943, một người em trai khác  của ông là Mao Trạch Dân cũng bị giết dưới bàn tay của Tưởng Giới Thạch. Trải qua nhiều biến cố đau thương đã tạo cho Mao Trạch Đông một đức tính cứng rắn, quyết đoán và kiên nghị. Tính cách này đã giúp ông thành công trong  sự nghiệp vì nó phù hợp với con đường ông đã chọn, nhưng nó lại không mấy phù hợp với đời sống riêng tư.
Tuổi thơ và thời niên thiếu của Mao Trạch Đông trôi đi trong nỗi vất vả cực nhọc vì người bố phong kiến luôn muốn ông ở nhà để lo công việc đồng áng và tính toán sổ sách cho ông. So với các bạn đồng trang lứa, Mao Trạch Đông không được đến trường đều đặn, ông luôn phải nghỉ học để lo phụ giúp gia đình. Năm 13 tuổi, cha ông buộc ông phải nghỉ học để ở nhà làm việc. Nhưng đến năm 15 tuổi Mao Trạch Đông tiếp tục đi học bất chấp sự phản đối quyết liệt của người cha. Ông không muốn cuộc đời mình cũng quẩn quanh như cuộc đời của cha ông.
Không như nhiều người khác, nhân vật lịch sử mà Mao Trạch Đông rất  khâm phục lại là Tần Thuỷ Hoàng([1]).
Những năm 1913 - 1918, Mao Trạch Đông theo học trường Sư phạm I, tỉnh Hồ Nam dưới sự dẫn dắt của Dương Xương Tế, một giáo sư triết học của  trường. Sau này ông đã cưới con gái thầy mình làm vợ. Năm 1917, ông cùng một số sinh viên thành lập nhóm nghiên cứu Tân Dân học hội. Ông được bầu làm người đứng đầu của nhóm. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm I, năm 1918,  Mao Trạch Đông tham gia và nhóm nhiên cứu chủ nghĩa xã hội do Lý Tự Đại  sáng lập.
Chịu ảnh hưởng khá mạnh của thầy mình là Dương Xương Tế, Mao Trạch Đông sớm đi theo con đường hoạt động chính trị và đã gặt hái được rất nhiều những thành công: Ông sáng lập ra Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, sau 28 năm xây dựng chiến đấu, Mao Trạch Đông đã tổ chức ra Quân giải phóng Trung Quốc và thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Ông đã thành công lớn trong việc tập hợp được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc để thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn.
Năm 1934, những cuộc tấn công dồn dập và ác liệt của Quốc dân Đảng nhằm loại bỏ Đảng Cộng sản khiến Mao Trạch Đông phải lãnh đạo Đảng Cộng sản đưa quân đội của mình làm một cuộc Trường chinh vĩ đại vượt hơn 10.000km để đến một căn cứ mới. Năm 1937, Nhật đem quân xâm lược Trung Quốc. Trước tình hình khó khăn ấy, Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản đã liên minh lại để tiến hành cuộc chiến tranh kháng Nhật cứu nước. Chiến tranh kết  thúc, Mao Trạch Đông được nhiều tầng lớp nhân dân ủng hộ nhiệt tình. Ông tiến hành cuộc chinh phạt Quốc dân Đảng, thống nhất giang sơn thành một mối.
Ngày 1.10.1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hoà  nhân dân Trung Hoa và trở thành vị lãnh tụ đầu tiên của quốc gia rộng lớn này. Ông đã lãnh đạo nhân dân lật đổ giai cấp địa chủ và xây dựng các công xã nông  nghiệp.
Trên con đường chính trị đầy khó khăn thử thách, Mao Trạch Đông ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của quần chúng nhân dân đã nhận được sự trợ giúp tận tuỵ của Chu Ân Lai, một người bạn đồng hành thông minh và trung thành. Chính Chu Ân Lai - khi thành lập nước được bầu làm thủ tướng và tại vị 26 năm - đã trở thành bức bình phong che chắn cho Mao Trạch Đông trong cuộc Đại Cách  mạng Văn hoá.
Về cuộc sống riêng tư, Mao Trạch Đông đã từng kết hôn tới bốn lần nhưng chưa một lần ông được hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn. Mạnh mẽ, quyết đoán trong công việc, chèo lái một đất nước rộng lớn với số dân lớn nhất ông làm được, nhưng để quản lý một gia đình, đó là một điều rất khó đối với Mao Trạch Đông. Không thành công ở những chính sách kinh tế năm 1957 - 1959, Mao Trạch Đông phải từ bỏ vai trò lãnh đạo nhà nước Trung Hoa. Đến  năm 1966, ông tiến hành cuộc Đại cách mạng vô sản và cuộc Đại cách mạng  văn hoá vô sản này đã gây ra những phản ứng tiêu cực trong một bộ phận nhân  dân. Tính thiếu thực tế, tả khuynh... của cuộc Cách mạng văn hoá cũng đi vào hồi cáo chung sau cái chết của ông và tháng 9. 1976.
Mao Trạch Đông đã vĩnh viễn ra đi, những cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi trong lòng người dân Trung Hoa như một nhân vật anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc.

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Gia Cát Lượng - Khổng Minh (181 - 234)

Từ xưa đến nay, trong dân gian, người ta đã thần thánh hóa nghệ thuật chỉ huy của Gia Cát Lượng, coi đó là hiện thân của trí tuệ. Cuộc đời chinh chiến mang đầy tính huyền thoại của ông đã cho thấy ông đúng là một nhà quân sự lỗi lạc. Không ít các nhà quân sự nổi tiếng sau này đã thành công khi vận dụng một  cách sáng tạo nghệ thuật quân sự của ông. Ông là người đã kế thừa và phát triển được binh pháp cổ dại và xây dựng thành một hệ thống quân sự khá độc đáo.


Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh sinh năm 181 ở huyện Đô, quận Lang Nha (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Vì bố mẹ mất sớm, nên từ nhỏ  Gia Cát Lượng đã đi theo người chú làm quan là Gia Cát Huyền sinh sống ở Dự Dương (nay là Nam Xương, Giang Tây) và Kinh Châu. Năm 197, Gia Cát  Huyền chết. Lúc đó, Gia Cát Lượng bước sang tuổi 17, bắt đầu bước vào cuộc sống tự lập, ông dựng mấy ngôi nhà tranh ở Long Chung, huyện Đặng, quận Nam Dương (nay là chỗ cách thành phố Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc khoảng 20  dặm) và sống ẩn dật ở đó 10 năm, tự cày ruộng để sinh sống, người ta kính trọng gọi ông là ''Ngọa Long tiên sinh''.
Mùa đông năm 207, nhờ Từ Thứ và Tư Mã Huy tiến cử Lưu Bị ở tuổi 47 lặn lội qua gió rét tìm đến tận Long Trung để gặp Gia Cát Lượng.
Hai lần đầu đến đều không gặp, lần thứ ba Lưu Bị mới gặp được Gia Cát  Lượng. Tận mắt thấy Lưu Bị là một người trọng hiền đãi sĩ, lại hết mức chân  thành, ông đã đồng ý giúp Lưu Bị khôi phục lại nhà Hán.
Đầu tiên, Gia Cát Lượng phân tích cặn kẽ tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, địa lý, con người... trong nước lúc đó, rồi phác thảo ra chiến lược phục hưng cơ nghiệp nhà Hán. Đoạn nói chuyện, được sử sách ghi chép lại dưới tựa đề nổi tiếng là ''Cuộc đối thoại ở Long Trung'', Gia Cát Lượng chỉ ra rằng: nếu như chiếm được Kinh Châu và Ích Châu, dựa vào thế hiểm yếu để cố thủ, đồng thời xây dựng mối quan hệ hữu hảo với các dân tộc thiểu số ở miền Tây; đối với  các dân tộc thiểu số ở miền Nam thì áp dụng chính sách động viên vỗ về. Về  mặt đối ngoại thì liên kết đồng minh với Tôn Quyền; về đối nội thì thực hành cải  cách chính trị, tích cực xây dựng lực lượng. Khi nào thời cơ cho phép, thì cử  một viên đại tướng tài năng và mẫn cán đem quân Kinh Châu sang đánh lấy Uyển Thành (nay là Nam Dương, tỉnh Hà Nam) và Lạc Dương mưu đồ giành lấy Trung Nguyên, còn Lưu Bị thì tự minh đem quân ích Châu đánh lấy Tần Châu nay là vùng Thiểm Tây, Cam Túc) tiến lên chiếm Tràng An. Đến lúc đó,  dân chúng ai cũng đem cơm trắng, rượu ngon để đón tiếp. Nếu thực hiện được việc đó thì việc lớn của Lưu Bị chắc sẽ thành công, cơ đồ nhà Hán sẽ được khôi phục.
Nhằm thực hiện kế hoạch to lớn đó, xuất phát từ tình hình thực tế, Gia Cát Lượng còn phân tích thêm về các thế lực cát cứ và so sánh lực lượng giữa các thế lực đó cũng như quan hệ đối kháng với nhau, rồi đề nghị với Lưu Bị thực hiện ba bướu trong kế hoạch chiến lược. Một là, tiêu diệt các thế lực yếu kém như: Lưu Biểu, Lưu Trương để chiếm Kinh Châu, ích Châu xây dựng thành căn cứ địa, hình thành thế chân vạc với Tào Tháo, Tôn Quyền. Hai là, cải thiện mối quan hệ với các dân tộc thiểu số, tiến hành cải cách chính trị, ổn định nội bộ,  tích trữ lực lượng, kết giao với Tôn Quyền để cô lập Tào Tháo, chờ đợi thời cơ. Ba là, nắm bắt thời cơ có lợi nhất, chia binh thành hai ngả, tiến lên phía Bắc đánh Ngụy, hoàn thành nhiệm vụ thống nhất. Kế hoạch chiến lược với tầm nhìn xa rộng cho thấy Gia Cát Lượng tuy tuổi còn trẻ nhưng đã có tầm nhìn của một nhà chiến lược lỗi lạc.
Ông đã giúp Lưu Bị phát triển quân đội, dùng kế lấy được Kinh Châu. Khi Tào Tháo đem đại quân Nam thành, Lưu Bị đã bị thua to ở dốc Trường Bản, Gia Cát Lượng tự mình đi sứ sang Đông Ngô để thuyết phục Tôn Quyền liên kết chống Tào và giành được thắng lợi vang dội ở trận Xích Bích. Ông hỗ trợ Lưu Bị mở rộng hầu hết địa bàn Kinh Châu, sau đó giành được Ích Châu, tạo thành thế cát cứ ba chiều hình chân vạc, bước đầu thực hiện được giai đoạn 1 của kế hoạch được nêu ra trong cuộc đối thoại ở Long Trung.
Sau khi Lưu Bị ốm chết, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá hậu chúa Lưu Thiền mới có 17 tuổi. Với chức danh thừa tướng ông gánh vác trọng trách trị vì Thục Hán, tiếp tục phấn đấu cho mục tiêu thống nhất thiên hạ nhà Đại Hán.
Năm 223, Gia Cát Lượng bắt tay vào thực hiện bước 2 của kế hoạch chiến lược. Một mặt, ông cử Đặng Chi sang làm sứ giả ở Đông Ngô, khôi phục lại mối quan hệ đồng minh với Tôn Quyền. Đồng thời chấn chỉnh nền chính trị trong nước, ổn định nội bộ, dự trữ lương thực, chuẩn bị kĩ lưỡng cho cuộc chiến Bắc phạt. Đúng lúc đó ở Nam Trung (nay thuộc huyện miền Nam Tứ Xuyên, miền Đông Vân Nam và miền Tây Bắc Quý Châu) xảy ra cuộc phản loạn vũ  trang ở quận ích Châu (nay thuộc Tấn Ninh, Vân Nam) của bọn địa chủ do Ung Khải cầm đầu, họ đã giết chết quan Thái thú do Thục Hán bổ nhiệm. Tiếp đó, lại  nổ ra hai cuộc nổi loạn khác để hưởng ứng, đó là cuộc khởi nghĩa của Chu Bảo ở Hoàng Bình - Quý Châu và Cao Định ở Tây Xương - Tứ Xuyên. Ung Khải sai  Mạnh Hoạch tiến hành tuyên truyền xuyên tạc trong đồng bào thiểu số ở vùng Nam Trung. Do Mạnh Hoạch kích động nên phong trào chống đối ngày càng mạnh mẽ, đội ngũ ngày càng đông đảo chẳng bao lâu đã lan truyền khắp vùng  Nam Trung .
Sau khi xảy ra phản loạn, đầu tiên Gia Cát Lượng áp dụng chính sách an ủi vỗ về không thảo phạt, tức là giải quyết bằng phương thức hòa bình. Tuy nhiên, Ung Khải lại cho rằng chính quyền Thục Hán nhu nhược, yếu đuối, có thể lấn tới được nên y càng quậy phá mạnh hơn. Vì vậy muốn ổn định hậu phương, nhằm thực hiện việc lớn là Bắc phạt, Gia Cát Lượng quyết tự mình đem quân  xuống phía Nam.
Đầu năm 225, Gia Cát Lượng sai Mã Trung chỉ huy cánh quân phía Đông, đi từ Nghi Tân xuống phía Đông Nam để đánh Chu Bảo; cử Lý Khôi  đang đóng quân tại Bình Dị nay là huyện Tất Tiết, tỉnh Quý Châu) đem binh mã dưới quyền làm cánh quân trung lộ đánh vào quận ích Châu, nhằm bao vây bọn Ung Khải. Còn Gia Cát Lượng đích thân dẫn quân chủ lực đi theo hướng Tây, trước hết đánh Cao Định, sau đó sẽ hợp với hai cánh quân và tập trung đánh Ung Khải, dập tắt cuộc bạo loạn. Cánh quân phía Tây dưới sự chỉ huy của Gia Cát Lượng xuất phát từ An Thượng (nay thuộc Bình Sơn - Tứ Xuyên) tiến vào vùng nổi loạn. Cao Định đã cho quân đào hào đắp luỹ phòng thủ tại Hán Nguyên, Diêm, Nguyên, Chiêu Giác... Gia Cát Lượng cố ý chần chừ không tiến quân. Khi Cao Định tập trung quân từ các nơi về một chỗ, Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân phản loạn, giết chết Cao Định. Trong lúc đó, cánh quân phía Đông của Mã Trung cũng đánh bại Chu Bảo, giải  quyết cơ bản cuộc bạo loạn ở hai phía Đông và Tây. Gia Cát Lượng chỉ huy cả ba cánh quân thừa thắng truy kích, thọc thẳng vào hang phản loạn của Ung Khải  ở Ích Châu.
Tháng 5, đạo quân của Gia Cát Lượng hành quân qua vùng rừng núi hiểm trở, vượt qua sông Kim Sa, đến gần được quận Ích Châu. Lúc đó Ung Khải đã bị thuộc hạ của Cao Định giết chết. Mạnh Hoạch thế chân Ung Khải làm thủ lĩnh quân phản loạn. Nhận thấy uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của Mạnh Hoạch ở vùng Nam Trung, vì muốn giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu  số vùng này với triều đình Thục Hán, với mục đích tạo được sự ổn định lâu dài và chắc chắn cho vùng Nam Trung, nên Gia Cát Lượng quyết định đánh vào lòng người của Mạnh Hoạch, coi đó là chiến thuật chủ đạo. Gia Cát Lượng hạ lệnh đánh nhau với Mạnh Hoạch, quân Thục chỉ được phép bắt sống, không được giết chết hoặc làm bị thương.
Trận đầu giao tranh, quả nhiên Mạnh Hoạch bị bắt sống, Gia Cát Lượng không giết, không làm nhục mà còn khoản đãi, nhằm làm cho Mạnh Hoạch chịu hàng phục.
Gia Cát Lượng tha cho Mạnh Hoạch về. Mạnh Hoạch tập hợp lực lượng giao tranh lần nữa, nhưng vẫn thua và bị quân Thục bắt sống. Lần này, Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu phục. Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra, cứ như vậy lặp đi lặp lại đến 7 lần. Cuối cùng, Mạnh Hoạch nhận thấy Gia Cát Lượng quả thật là con người mưu lược phi thường, và trong thâm tâm không có ý định thù địch với mình nên đã chịu phục. Sau khi Mạnh Hoạch chịu thần phục thì các thế lực phản loạn ở miền Nam cũng nhanh chóng lần lượt quy hàng.
Sau khi ổn định được khu vực Tây Nam, Gia Cát Lượng bắt đầu suy tính đến kế hoạch Bắc phạt Tào Nguy, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước Trung Quốc, đó cũng là ý tướng ấp ủ từ lâu của Gia Cát Lượng. Mùa xuân năm 228, Gia Cát Lượng thống lĩnh 10 vạn đại quân xuất phát từ Hán Trung đi về  hướng Bắc để chinh phạt Nguỵ. Gia Cát Lượng quyết định xuất quân ở Kỳ Sơn, trận đầu đánh chiếm Lũng Hữu (nay thuộc Cam Túc), trận tiếp theo sẽ đánh chiếm Quan Trung, đánh chắc thắng chắc. Ông cho loan tin đại quân Gia Cát Lượng sắp sửa theo hướng hẻm Tà Cốc để đánh vào Mỹ Thành; cử Triệu Vân, Đặng Ngải đem một bộ phận binh lực đi chiếm Kỳ Cốc (nay thuộc địa bàn huyện Thái Bạch, tỉnh Thiểm Tây) và làm ra vẻ như muốn đi theo đường Tà Cốc để tiến lên phía Bắc, nhằm thu hút sự chú ý của quân Tào, trong khi đó Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân chủ lực tiến theo đường Kỳ Sơn về hướng Tây Bắc.
Quân Tào ở nước Nguỵ không thể ngờ rằng Thục Hán nhỏ bé lại dám đánh Ngụy, nên ở phía Lũng Hữu không hề bố trí quân đội phòng ngự. Quân Thục qua nhiều năm được Gia Cát Lượng dày công huấn luyện đã trở thành một đạo quân hùng hậu dũng mãnh, hiệu lệnh rất nghiêm minh, xuất quân từ Kỳ Sơn, như thế chẻ tre, nhanh chóng chiếm được ba quận đường đất Lũng Hữu là Thiên Thuỷ, An Nam, An Định, dụ hàng được danh tướng Ngụy là Khương  Duy, gây xôn xao cả một miền Quang Trung. Ngụy Minh Đế Tào Duệ nghe tin  thất kinh, lập tức sai tướng Tào Chân đem quân đi chi viện cho My Thành, nhằm ngăn chặn Triệu Vân, lại sai tướng Trương Hợp dẫn 50.000 kỵ binh và bộ binh  tiến nhanh đến Nhai Đình, vòng đằng sau đánh tập hậu vào quân Thục, hòng chiếm lại Lũng Hữu. Tào Duệ cũng tự mình đến Tràng An để chỉ huy tác chiến.
Gia Cát Lượng đang có ý đánh chiếm hai quận Quảng Ngụy và Lũng Tây để chiếm trọn cả vùng Lũng Hữu, bỗng nghe tin đại quân của Trương Hợp đang vòng đánh từ hướng Tây. Nhằm đảm bảo an toàn hai bên sườn, để phát triển cuộc tấn công, Gia Cát Lượng lập tức hạ lệnh cho tiên phong Mã Tốc đem tiền quân đánh gấp, lấy Nhai Đình. Nhai Đình nằm ở khoảng giữa sông Vị và núi Mạch Tích – đó chính là con đường huyết mạch để đi từ Thiểm vào Lũng. Trước khi đi, Gia Cát Lượng năm lần bảy lượt dặn dò Mã Tốc hãy cẩn trọng. Không ngờ Mã Tốc tự cho mình là thông minh, dám vi phạm phương án bố trí của Gia Cát Lượng, đưa đến hậu quả Nhai Đình bị thất thủ, làm cho Gia Cát Lượng mất  bàn đạp tấn công, lỡ mất cơ hội đánh chiếm Lũng Hữu. Xét tình hình thực tế, Gia Cát Lượng cho rằng quân Thục không thể tiếp tục giao chiến được nữa, ông quyết định thu quân trở về Hán Trung.
Sau khi về đến Hán Trung để giữ nghiêm kỷ luật, Gia Cát Lượng, cho chém Mã Tốc, đồng thời viết tờ tấu dâng lên Lưu Thiền xin hạ tước vị của mình xuống ba bậc, và công bố sai lầm của bản thân mình cho cả nước được biết, làm gương cho mọi người tự vạch khuyết điểm của mình.
Tháng 12 năm đó, nhân cơ hội Lục Tốn ở Đông Ngô đánh bại quân Tào Hữu ở Thạch Bình (nay thuộc vùng Đông Bắc Tiềm Sơn, tỉnh An Huy); quân chủ lực phải chi viện cho mặt trận phía Đông; vùng Quang Trung tương đối trống vắng, Gia Cát Lượng liền tổ chức cuộc Bắc phạt lần thứ hai. Quân Thục đi qua Tán Quan (nay thuộc vùng Tây Nam Bảo Kê - Thiểm Tây) hành quân đến Trần Thương (nay ở phía Đông Bảo Kê). Địa thế ở Trần Thương vô cùng hiểm trở, dễ giữ khó đánh, được coi là nơi các nhà quân sự phải chiếm bằng được. Trước đó Tào Chân đã cho Hách Chiêu tăng cường phòng bị. Gia Cát Lượng chỉ  huy quân đội đánh ròng rã hai mươi ngày mà không suy suyển, lại thêm lương thảo quân Thục dần cạn kiệt. Về phía quân Ngụy thì đại tướng Trương Hợp dẫn viện binh vừa đến, do đó Gia Cát Lượng chủ động dỡ bỏ vòng vây.
Mùa xuân năm 229, Gia Cát Lượng phát động chiến dịch Bắc phạt lần thứ ba, trận đầu chiếm được hai quận là Vũ Đô (thủ phủ ở vùng phía Tây Bắc, huyện Thành, tỉnh Cam Túc) và quận Dương Bình (Thủ Phủ ở phía Tây Bắc, huyện Văn, tỉnh Cam Túc) thuộc đất Lũng Hữu, sau đó thừa thế thu quân. Do lập công trong chiến dịch chiếm hai quận này, nên Lưu Thiền đã phục chức Thừa tướng cho Gia Cát Lượng.
Tháng 2.231, Gia Cát Lượng lại thống lĩnh đại binh xuất quân từ Kỳ Sơn, tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ tư. Mục tiêu lần này vẫn là chiếm đất Lũng Hữu, nhưng tiền đồn để xuất quân đẩy lên Vũ Đô, Bình Dương. Ông phái một cánh quân vây khốn Kỳ Sơn và tự mình chỉ huy chủ lực chuẩn bị giao tranh một trận sống mái với cánh quân tăng viện của nước Nguỵ. Lúc này, người thống soái quân Ngụy được đã chuyển sang cho vị tướng tài ba giỏi dùng binh pháp là Tư Mã Ý. Tư Mã Ý nghĩ rằng quân Thục lương thảo ít, dễ đánh lâu dài, nên dựa  vào thế đất hiểm yếu để cố thủ, không chịu ra đánh. Gia Cát Lượng chờ mãi không được, đành dẫn quân rút lui về phía Kỳ Sơn, nhằm lôi kéo quân Ngụy ra ngoài để đánh. Tư Mã Ý cho quân đuổi theo rất thận trọng, khi quân Thục dừng lại, họ cũng dừng lại không đuổi nữa, tuy nhiên họ chỉ cắm trại cố thủ.
Đến tháng 6 do trời mưa to hết ngày này sang ngày khác, việc vận lương thực rất khó khăn. Tướng phụ trách việc vận lượng là Lý Nghiêm giả mạo chiếu thiên tử lệnh cho Gia Cát Lượng lui binh. Gia Cát Lượng đành chấp nhận rút quân, trên đường rút lui còn gài bẫy, chém được danh tướng nước Ngụy dẫn quân đuổi theo là Trương Hợp.
Mùa xuân năm 234, sau mấy năm chuẩn bị, Gia Cát Lượng lại dẫn 100.000 đại binh tiến theo đường Tà Cốc, mở đầu cuộc chiến tranh Bắc phạt lần thứ năm, mặt khác sai sứ thần sang hẹn với Tôn Quyền cùng tấn công. Tháng 4, quân Thục hành quân đến huyện My. Lúc này, quân Ngụy do Tư Mã Ý thống lĩnh đã đến bờ Nam sông Vị Thuỷ. Tư Mã Ý đã khai thác thế yếu của quân Thục mới hành quân từ xa, đến, vận chuyển lương thực khó khăn, quyết định thủ để  công, nhờ yếu tố thời gian làm cho quân Thục phải tan rã.
Quân Nguỵ kiên quyết cố thủ không đánh, đã đưa Gia Cát Lượng vào tình thế giằng co, không thể tiến triển được.
Tháng 7, đội quân do Tôn Quyền chỉ huy sang đánh Ngụy lại bị thất bại lui về Giang Đông. Tháng 8, do vất vả mệt nhọc lâu ngày mà sinh bệnh, Gia Cát Lượng không may ốm chết trong doanh trại Ngũ Trượng Nguyên, chỉ thọ 54  tuổi.
Theo đánh giá chung, cuộc đời binh nghiệp của Gia Cát Lượng rất phong phú, đa dạng. Ông đã để lại di sản quy báu về tư liệu, kiến thức quân sự cho đời sau. Ông kiên trì dùng quân pháp để xây dựng và chỉ huy quân đội. Ông cho rằng thưởng phạt nghiêm minh, giữ nghiêm kỉ luật là yếu tố tạo ra sức mạnh. Nếu kỷ luật không nghiêm, thưởng phạt không phân minh, thì cho dù quân đông đến hàng trăm vạn cũng không thể chiến thắng được kẻ thù. Gia Cát Lượng chú ý áp dụng những kỹ thuật sản xuất tiên tiến để phục vụ cho chiến tranh. Ông  phát minh và phổ biến ''con trâu gỗ'' (là loại xe đẩy bằng gỗ có bốn chân và một  bánh) xe ngựa (loại xe bằng gỗ, có người đẩy, bốn bánh) giải quyết được vấn đề vận tải lương thực ở miền núi. Khổng Minh rất coi trọng khâu cải tiến trang thiết bị, phát minh ra loại cung liên hoàn kiểu mới, một lần bắn được mười mũi tên,  đáng kể là bát trận đồ của ông còn gọi là ''bát trận pháp'', được người đời sau rất coi trọng. Ngoài ra, Gia Cát Lượng còn để lại nhiều câu danh ngôn về bình luận quân sự. Ví dụ trong cuốn Binh yếu, ông nói: “Nguyên tắc dùng binh, trước hết  phải xác định mưu kế, sau đó quán triệt phương án thực hành. Cần tìm hiểu tình hình thiên thời, địa lợi, quan sát lòng người, thông thạo sử dụng vũ khí, vạch rõ nguyên tắc thưởng phạt, nghiên cứu sách lược của đối phương, xem xét địa thế  đường sá, nhận biết địa hình có lợi và bất lợi, phán đoán tương quan lực lượng đách - ta, hiểu rõ thời cơ tiến thoái, biết chọn đúng thời cơ tác chiến, làm tốt công tác chuẩn bị phòng ngự. Tăng cường sức mạnh, nâng cao bản lĩnh chiến sĩ, đúc rút bài học thắng bại, cân nhắc cái giá của sự sống và cái chết. Sau đó mới quyết định điều binh khiển tướng, cắt cử tướng lĩnh, nhằm tạo nên thế trận diệt  thù. Đó chính là yếu lĩnh cầm quân đánh giặc”.

Lincoln (1805 - 1865)

Người ta biết đến ông như một tấm gương sáng về sự vượt khó; một người đã cống hiến không biết mệt mỏi cho cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ và đặc biệt là đã đem lại sự vẹn toàn cho Liên bang Hoa Kỳ khi cuộc nội chiến Nam Bắc xảy ra. Với những thành quả đó, nhân dân Mỹ cũng như triệu triệu người trên thế giới đã tôn vinh ông là vị tổng thống vĩ đại nhất trong mọi thời đại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.


Ngày 12.2.1809 Abraham Lincoln - Tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ đã cất tiếng khóc chào đời trong một căn nhà tồi tàn tại hạt Hardin, bang Kentucky. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, bố làm thợ mộc, mẹ là một người phụ nữ thông minh nhưng do hoàn cảnh gia đình mà không được đi học. Chính những điều đó đã thôi thúc Abraham Lincoln ngay từ nhỏ đã chăm chỉ học hành và say mê đọc sách báo. Người ta kể rằng, ông đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần bộ Kinh thánh và những câu chuyện của Acsop (một tác gia La Mã cổ đại). Năm ông lên 9 tuổi mẹ ông đột ngột qua đời. Sự kiện này càng thôi thúc ông phấn đấu để tự lập cũng như giúp đỡ gia đình vượt qua cơn khốn khó.

Trước khi trở thành luật sư, chính khách và cuối cùng là ứng cử viên tổng thống của Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ, Abraham Lincoln đã làm rất nhiều nghề khác nhau, và những công việc đó đã tạo nên những phẩm chất của một vĩ nhân của nước Mỹ sau này.
Năm 1830, Lincoln thoát ly gia đình đến New Salem làm nhân viên phục vụ trong một cửa hàng tổng hợp, lúc đó Abraham Lincoln vừa tròn 21 tuổi. Hai năm sau, năm 1832, theo lời kêu gọi của thống đốc bang, Lincoln gia nhập quân ngũ và nhanh chóng trở thành chỉ huy của đội quân tình nguyện này. Năm 1833, ông được đích thân tổng thống Andrew Johnson bổ nhiệm làm giám đốc bưu điện New Salem, bang Illinois và một năm sau ông trở thành thành viên của cơ quan lập pháp bang Illinois. Sau khi lập gia đình vào năm 1842 với Mary Todd con gái của một gia đình quyền quý, Lincoln có điều kiện hơn để tiếp tục phấn đấu cho những mục tiêu trên con đường chính trị của mình.
Khi trở thành hạ nghị sĩ năm 1845 với khẩu hiệu đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ ông đã tham gia vận động tranh cử tổng thống. Từ những nỗ lực không ngừng đó ông được bầu là ứng cử viên chức thượng nghị sĩ tại Đại hội của Đảng Cộng hoà tổ chức ở bang Illinois. Ngày 17.6.1858 Lincoln đã đọc một bài diễn văn nổi tiếng trong đó ông lên án mạnh mẽ và kêu gọi xoá bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ.
Sau những cố gắng không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh đòi xoá bỏ chế độ nô lệ ông đã đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1861 - 1864. Mặc dù không phải là người đầu tiên xoá bỏ chế độ nô lệ, bởi vì trước khi ông lên nắm quyền, có nhiều quốc gia đã tiến hành xoá bỏ chế độ này và đạt được kết quả tốt, nhưng Lincoln vẫn tạo được tiếng vang lớn vì ông đã phát động được phong trào này một cách mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên điểm nhấn trong sự nghiệp của lãnh đạo đất nước của ông - thể hiện tài năng chính trị siêu việt của ông chính là việc ông đã lãnh đạo đất nước thành công trong việc chống lại âm mưu ly khai một số bang phía Nam khỏi liên bang Hoa Kỳ.
Cuộc nội chiến giữa các bang miền Bắc và các bang miền Nam Hoa Kỳ mà lịch sử vẫn gọi là cuộc chiến tranh ly khai kéo dài 4 năm (1861 - 1865). Trong cuộc nội chiến này, nhờ có những chính sách tiến bộ của Linconl như cấp đất ở miền Tây cho những người di cư, xoá bỏ chế độ nô lệ da đen, nên quân đội miền Bắc đã đánh thắng quân đội miền Nam, hợp nhất hai miền.
Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln đã từng bị chỉ trích khi không nhanh chóng đàn áp được các cuộc nổi dậy ở phía Nam. Ngày 1.1.1963, Linconl đưa ra Tuyên bố giải phóng (Công ước tự do), trả tự do cho tất cả nô lệ Mỹ, nhưng những người Mỹ ở miền Nam không tuân theo đạo luật này cho đến khi họ thua trận. Tuyên bố này của Lincoln đã xoá đi những cách biệt về tôn giáo, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội... giữa miền Nam và miền Bắc.
Sau cuộc chiến Gettysburg khốc liệt, Lincoln đã có một bài diễn văn ca ngợi những người lính tử trận, những người mà theo ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho chính phủ, cho nhân dân và vì hoà bình, độc lập và tự do. Sự hy sinh đó phải được đền đáp và chính phủ do nhân dân gây dựng và giữ gìn sẽ không bao giờ mất đi trên đất nước này.
Có thể nói sự nghiệp của Lincoln có ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Mỹ và là tấm gương cho hàng triệu người trên thế giới. Năm 1864, được sự tín nhiệm của nhân dân ông đã tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (1864 - 1868). Ông đã đề ra một kế hoạch hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế thời hậu chiến. Nhưng kế hoạch còn đang dang dở thì ngày 14.4.1865, trong một buổi dạ hội long trọng tại thủ đô Washington, ông đã bị những kẻ cuồng tín ở miền Nam ám sát, để lại sự tiếc thương vô hạn trong lòng nhân dân Mỹ cũng như nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới.
Trong hai cuộc bầu chọn về thứ bậc và ảnh hưởng của các tổng thống Hoa Kỳ, Lincoln đều xếp thứ nhất trên cả Washington - tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ và đứng đầu danh sách năm tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ. Điều này cho thấy vai trò, vị trí và tầm ảnh hưởng của Lincoln đối với lịch sử nước Mỹ là vô cùng to lớn. Ông là một vị tướng tài ba, một nhà chính trị xuất sắc, nhưng trên hơn cả là tấm lòng của ông đối với nhân dân lao động và tầng lớp bình dân nước Mỹ. 

Michael Faraday (1791 - 1867)

Michael Faraday đã trở thành một tấm gương lớn về sự nỗ lực hết mình  trong con đường nghiên cứu khoa học. Từ thân phận con trai một người thợ rèn  nghèo khó, từ một chú bé học việc trong một hiệu đóng sách, Michael Faraday  đã cố gắng học tập và trở thành một nhà khoa học lớn của nhân loại. Ông là người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng cảm ứng điện từ, đạt nền tảng cho việc  chế tạo ra máy phát điện.

Mỗi ngày, chúng ta đều mở, tắt các công tắc đèn không biết bao nhiêu lần, nhưng không phải ai cũng rõ, ai là người đầu tiên đưa lại cho chúng ta tiện ích to lớn của điện. Đó không phải ai khác, chính là Michael Faraday với sự chứng minh từ trường có thể sinh ra dòng điện. Cuộc đời nhà khoa học này quả thực là  một tấm gương lớn về sự nỗ lực vươn lên.

Michael Faraday sinh vào ngày 22 tháng 9 năm 1791, trong một gia đình thợ rèn tạo Newington, ngoại ô Luân Đôn, nước Anh. Cha ông, James Faraday  là một thợ rèn không mấy khỏe mạnh, mẹ ông là con gái một trang viên ở miền Bắc nước Anh. Michael Faraday là con thứ ba trong gia đình có bốn người con. Năm 1796, cả gia đình Faraday dọn vào sống ở nội thành Luân Đôn, nhưng sự nghèo khó vẫn đeo bám họ bởi người cha thường bị bệnh. Cả nhà ông phải sống lay lắt nhờ vào sự cứu trợ của các cơ quan từ thiện. Chính bởi gia cảnh khó khăn  như vậy mà Michael Faraday đã không thể có một tuổi thơ êm đẹp và sự giáo dục hoàn chỉnh như những đứa trẻ khác. Thời thơ ấu của Michael Faraday để lại  nhiều câu chuyện vô cùng cảm động. Chuyện kể rằng, một hôm thầy giáo và cả lớp rất ngạc nhiên khi thấy Faraday đến lớp muộn với gương mặt buồn bã, tay không mang cặp sách, Thầy giáo vội vàng hỏi: ''Có chuyện gì xảy ra với em vậy, Faraday?'', Faraday nghẹn ngào nói: ''Thưa thầy, con đến xin phép thầy nghỉ học để ở nhà trông em giúp bố mẹ, vì dạo này bố con không có việc làm, mẹ con phải đi giặt thuê để kiếm tiền nuôi gia đình''. Thầy giáo đặt tay lên đôi vai gầy gò của cậu học trò nhỏ và nói: ''Hãy dũng cảm lên Faraday! Phải bỏ học giữa chừng như vậy thật tiếc, nhưng em hãy vững lòng tin vào cuộc sống và luôn ghi  nhớ những tấm gương hiếu học của người xưa. Cái khó nhất là rèn luyện ý chí  cho bền''. Quả thật, cậu học trò thường xuyên phải bỏ học vì hoàn cảnh gia đình  ấy sau này đã trở thành một nhà khoa học danh tiếng.
Năm 1804, khi mới 13 tuổi, Faraday đã đến xin việc ở một nhà sách mang tên: ''Hiệu bán sách và đóng  sách Ribo''. Công việc ở hiệu sách này cũng tạo điều kiện để Faraday thường xuyên được tiếp xúc với tri thức. Ban đầu, công  việc của Faraday là phân phối sách báo. Sau một năm, ông được chuyển sang  học kỹ thuật đóng sách báo. Ngoài việc đóng bìa cho những cuốn sách, Faraday rất thích thú tìm hiểu nội dung tri thức bên trong của chúng. Ông chủ hiệu sách  là một người nhân hậu nên thường động viên Faraday đọc sách. Ông thường nói:  ''Đọc đi nào, Faraday! Mặc dù bảo người thợ đóng sách chỉ cần lo phần bề ngoài  của một quyển sách, nhưng cậu biết thêm nội dung của những quyển sách đó  cũng không có gì là xấu''. Niềm say mê đối với sách vở từng được Faraday ghi lại trong hồi ức của ông: ''Trong khi tôi học việc, lúc nào tôi cũng thích đọc những sách khoa học bên cạnh, trong số đó tôi thích đọc nhất là quyển Mạn đàm  về hóa học và phần luận văn về điện học trong quyển Đại anh Bách khoa toàn  thư''.
Cậu bé học việc Faraday đã bị thế giới khoa học cuốn hút từ khi được tiếp  xúc với rất nhiều sách vở khoa học. Faraday đã rất nhiều lần tự làm những thí  nghiệm theo hướng dẫn của sách. Mỗi buổi tối, sau một ngày làm việc mệt nhọc,  Faraday lại tự cho mình được quyền thưởng thức thú vui đọc sách và tự tìm hiểu  chân trời tri thức qua những trang sách thú vị đó. Ông đã viết trong hồi ký: ''Tôi đã tiến hành thực nghiệm trong khả năng phí tổn cho phép. Mỗi tuần tôi tốn mấy pence. Ngoài ra, tôi còn chế tạo được một thử máy móc dùng để học về điện.  Ban đầu thì tôi dùng những lọ pha lê nhỏ, nhưng về sau thì tôi thật sự dùng  những ống bằng đồng và những dụng cụ thí nghiệm về điện khác”. Càng tiếp  xúc với tri thức khoa học, lòng say mê khoa học lại càng trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng Faraday.
Chắc hẳn, Faraday không ngờ rằng cuộc đời mình lại có được cơ may làm  khoa học thực sự khi tham gia mấy mươi buổi thuyết trình khoa học do Hội  Triết học tổ chức. Trong suốt thời gian từ tháng 2 năm 1810 đến tháng 9 năm  1811, ông đã thực sự nghiêm túc lắng nghe, ghi chép và chỉnh lý một cách kỹ  lưỡng những bài giảng của các giáo sư. Như một sự sắp đặt, Faraday tình cờ  được người chủ hiệu sách tặng cho một tấm vé đi nghe buổi thuyết trình tại Học  viện Hoàng gia Anh, tình cờ được nghe giáo sư nổi tiếng Humphry Davy diễn  thuyết. Và ông đã biến sự tình cờ ấy thành một cơ hội lớn của đời mình khi bỏ công chỉnh lý một cách kỹ lưỡng những ghi chép trong buổi diễn thuyết ấy và bổ  sung vào đó những kiến giải riêng thú vị của ông, rồi đóng thành một quyển  sách đẹp lấy tên là: “Ghi chép về buổi diễn thuyết của tước sĩ Humphry Davy”.  Tháng 10 năm 1812, Faraday tự gửi cuốn sách này đến giáo sư Davy cùng với  một bức thư tự tiến cử mình. Hành động này đã khiến Davy rất bất ngờ. Ngay lập tức, giáo sư Davy viết thư trả lời cho Faraday: “Tôi đã nhận được tác phẩm  lớn của bạn gửi tới, sau khi đọc xong, tôi cảm thấy hết sức vui mừng. Nó đã bộc  lộ một nhiệt tình thành khẩn, một trí nhớ tốt và một tinh thần chuyên tâm cao ... Tôi rất vui lòng giúp đỡ bạn. Tôi hy vọng đây là công việc mà sức tôi có thể làm  được”. Một bước ngoặt lớn đã đến với cuộc đời của Faraday vào tháng 3 năm  1813, khi ông được nhận vào làm việc tại Học viện Hoàng gia Anh với sự giúp  đỡ của giáo sư Davy. Mặc dù trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình,  Davy đã có rất nhiều phát hiện, nhưng ông cho rằng: “Sự phát hiện vĩ đại nhất   trong đời tôi chính là Faraday”.
Từng bước một, cậu bé Faraday ngày nào đã  tiến gần hơn với vương quốc khoa học bằng chính những nỗ lực không ngừng  của bản thân. Công việc tại Học viện Hoàng gia của Faraday ban đầu chỉ là  những công việc tạp dịch như rửa chai lọ, lau bàn ghế, quét nhà. . . , nhưng  không lâu sau, ông đã nắm được kỹ thuật thực nghiệm và trở thành trợ thủ đắc  lực của Davy. Ông đã chuyển đến sống ở tòa nhà phố Albemarle Street để tiện làm việc. Sự gắn bó với giáo sư Davy đã đem đến cho Faraday cơ hội được tham gia một chuyến du  hành khoa học tới lục địa Châu Âu vào tháng 10 năm 1813. Trong chuyến đi kéo  dài 18 tháng này, Faraday đã được làm quen với rất nhiều nhà khoa học lớn như:  Marie Ampère, Count Alessandro Volta, Gay Lussac. . . và được tham quan  nhiều phòng thí nghiệm lớn. Sau này, Ampère và Faraday đã có một tình bạn  thân thiết, bền lâu. Chuyến đi này thực sự là một trường đại học đối với  Faraday. Ông đã rất chịu khó ghi chép và tích lũy kiến thức trong suốt cuộc hành  trình. Tháng 4 năm 1815, sau khi trở về, Faraday được thăng lên chức Trợ thủ phòng thí nghiệm kiêm quản lý viên tiêu bản khoáng vật, kiêm tổng quản thiết bị và dụng cụ thí nghiệm. Công việc trở nên vất vả hơn song không vì thế mà Faraday sao nhãng việc tự nghiên cứu. Vốn kiến thức mà ông tích lũy được  trong suốt thời gian này là nền tảng để Faraday tiếp tục đi sâu hơn vào con  đường nghiên cứu khoa học.
Lần đầu tiên Faraday viết một luận văn khoa học là vào năm 1816, dưới  sự chỉ đạo của Davy. Ông vẫn luôn xúc động khi nói về bản luận văn đầu tiên  của mình: “Đây là lần đầu tiên tôi thử bàn về vấn đề hóa học, và lòng sợ hãi của  tôi còn to lớn hơn là lòng tự tin. Hơn nữa, cả hai tâm trạng đó lại lớn hơn cả tri  thức của tôi. Lúc bấy giờ, tôi không thể tưởng tượng được là mình có thể viết  một bài luận văn khoa học mà trong đó có nhiều sáng kiến như vậy. Từ sự thành  công của bản luận văn đầu tiên, Faraday tiếp tục dấn thân vào con đường nghiên  cứu với nhiều bản luận văn khác. Chỉ trong hai năm 1817 và 1818, ông đã có tới  mười bảy bài luận văn phân tích hóa học. Con số này cho thấy tri thức đồ sộ mà  Faraday đã tự tích lũy được trong suốt quá trình tự học của ông. Nó cũng khẳng  định ông là một người có khả năng nghiên cứu độc lập. Từ thân phận một người  giúp việc, Faraday đã tự nâng mình lên thành một nhà khoa học thực thụ bằng chính năng lực của bản thân ông.
Cuộc đời khoa học của Faraday có rất nhiều  đóng góp, đặc biệt là sự đóng góp trong hai lĩnh vực: hóa học và vật lý. Mỗi  chặng đời của Faraday gắn  liền với một lĩnh vực khoa học. Trước năm 1830, do ảnh hưởng của Davy, Faraday chủ yếu theo đuổi việc nghiên cứu hóa học. Trong giai đoạn này, ông  nghiên cứu và có nhiều phát hiện cả về lĩnh vực hóa học hữu cơ và hóa học vô  cơ. Từ năm 1818 đến năm 1823, ông nghiên cứu chế tạo ra một loại thép hợp  kim. Trong quá trình nghiên cứu để phục chế lại loại thép Wootz - một loại thép  của Ấn Độ được mệnh danh là tốt nhất lúc bấy giờ, Faraday đã sáng tạo ra  phương pháp phân tích kim loại. Năm 1825, Faraday lại bắt tay vào việc nghiên  cứu loại khí thể dùng để chiếu sáng cho thành phố Luân Đôn. Loại khí này được  đặt tên là khí Clo. Từ năm 1824 đến năm 1831, theo yêu cầu của Học viện Hoàng gia, Faraday tập trung nghiên cứu vấn đề kỹ thuật sản xuất pha lê quang  học. Ông đã chế tạo ra một thử pha lê nặng, về sau được dùng để nghiên cứu  hiệu ứng xoay chuyển của quang từ. Trong lĩnh vực hóa học hữu cơ, ông đã xác  lập được công thức hóa học của Nạp - ta - len. Cuốn sách lớn nhất của Faraday  trong lĩnh vực hóa học là cuốn Thao tác hóa học gồm hơn sáu trăm trang, xuất  bản năm 1827. Đây cũng là cuốn sách giáo khoa duy nhất mà Faraday đã viết.
Suốt thời trai trẻ, Faraday chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu khoa học  mà không màng tới việc lập gia đình. Điều đó cũng còn một lý do khác nửa, đó  là quan niệm về tình yêu rất kỳ lạ của ông. Ông từng viết trong một cuốn nhật ký  những lời lẽ đầy châm biếm như sau: ''Cái gì gọi là tình yêu? Ngoài đương sự ra  nó là thứ mà mọi người đều chán ghét''. Ông cho rằng tình yêu sẽ khiến con người tiêu tan ý chí, sẽ cản trở con người thực hiện mục tiêu cao cả của mình.  Nhưng mùa xuân năm 1820, khi gặp Sarah Barnard, Faraday đã thay đổi suy  nghĩ. Hai người gặp nhau khi đi lễ nhà thờ và ngay lập tức, Faraday yêu say đắm  cô con gái gia đình thợ bạc ấy. Ngày 12 tháng 6 năm 1821, họ tổ chức một lễ  cưới giản dị và sống hạnh phúc bên nhau, dù không có con cái. Sarah là một phụ  nữ nhân hậu, không đam mê tiền bạc, hư vinh. Faraday từng thổ lộ với người vợ  yêu quý của mình rằng: ''Em là người hiểu anh hơn cả anh. Em biết những thiên  kiến trước kia của anh và cũng biết được những suy nghĩ của anh hiện nay, em hiểu được nhược điểm của anh và toàn bộ tư tưởng của anh. Em đã giúp anh  thoát khỏi con đường sai lầm, giúp anh hy vọng, và em còn tiếp tục uốn nắn  nhiều sai lầm khác của anh nữa''. Cuộc sống gia đình hạnh phúc khiến Faraday  có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu khoa học mà không phải bận tâm lo lắng  điều gì.
Thời kỳ mà Faraday đạt nhiều thành quả khoa học nhất là từ năm 1830  đến năm 1839. Trong khoảng thời gian này, ông bắt tay vào việc nghiên cứu kỹ  càng lĩnh vực vật lý mà cơ bản là phần điện học hiện đại. Thực ra, Faraday đã  quan tâm đến vấn đề điện từ học từ những năm 1821. Sau khi nhà vật lý học  Đan Mạch H. C. Orsted phát hiện về hiệu ứng từ của dòng điện, các nhà vật lý  đua nhau tập trung vào hướng nghiên cứu điện từ. Faraday cũng là một trong số  đó. Ngay trong lễ Giáng sinh năm 1821, Faraday đã công khai biểu diễn thí  nghiệm về hiện tượng “điện từ xoay chuyển” và từ đó, ông trở nên nổi tiếng  trong lĩnh vực điện học. Nguyên lý xoay chuyển điện từ của Faraday chính là  nguyên lý của một máy phát điện. Faraday đã suy nghĩ theo hướng ấy, ông cho  rằng: nếu điện có thể sinh ra từ lực thì từ cũng có thể sinh ra điện. Năm 1822,  ông ghi trong sổ tay của mình khẩu hiệu: “Biến từ thành điện”. Từ đó trở đi,  Faraday bắt đầu mò mẫm tìm hiểu vấn đề đó bằng phương pháp thực nghiệm.  Rất nhiều lần Faraday làm thí nghiệm và thất bại nhưng không vì thế mà ông  nản lòng. Ông suy nghĩ một cách rất logic rằng thế giới là hài hòa và thống nhất,  do đó, điện và từ nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau. Trong suốt thời gian tiến hành các thí nghiệm, Faraday không phải không có lúc thiếu tin tưởng, ông đã  viết thư cho một người bạn với những lời lẽ như sau: “Tôi đang bận rộn nghiên  cứu về điện từ học. Tôi nghĩ, tôi có thể vớt lên được một thứ đồ gì đó đáng giá,  nhưng cũng không dám chắc. Tôi vẫn có thể tốn rất nhiều sức lao động, để vớt  lên không phải là một con cá mà là một nắm thủy tảo''. Và kết quả mà ông tìm kiếm được còn hơn cả một ''con cá'' - nói theo cách của ông. Sau gần mười năm  nghiên cứu, ngày 17 tháng 10 năm 1831, Faraday đã thành công trong việc  chứng minh từ lực có thể biến thành điện lực bằng việc sử dụng nam châm vĩnh  cửu tạo ra dòng điện. Hiện tượng cảm ứng điện từ và cỗ máy phát điện đầu tiên  đã được phát hiện ra như vậy.
Ngày 24 tháng 11 năm 1831, Faraday báo cáo  trước Học viện Hoàng gia về vấn đề phát hiện cảm ứng của điện từ. Bài luận văn này đã trở thành một tác phẩm lớn gồm ba quyển nhan đề: Nghiên cứu thực nghiệm điện học. Ngay lúc  đó, người ta chưa thể hình dung được tác dụng to lớn của phát hiện này. Tương  truyền, có người đã hỏi Faraday: Sự phát hiện này được dùng vào đâu? Rất  nhanh trí, Faraday hỏi trở lại: ''Đứa trẻ mới sinh ra được dùng vào đâu?”  Faraday đã được nhận bằng khen của Học viện Hoàng gia Anh vì phát hiện lớn  này.
Thành công đó không đủ làm thỏa mãn Faraday trên con đường nghiên  cứu khoa học của mình. Năm 1834, Faraday nêu ra hai định luật điện giải mang  tên ông, đặt cơ sở lý luận cho các ngành công nghiệp điện - hóa. Các danh từ  khoa học như: âm cực, dương cực, chất điện phân, điện tích âm, điện tích  dương ... vẫn được dùng cho đến ngày nay. Từ năm 1835, Faraday nghiên cứu  tĩnh điện. Năm 1838, ông lại tiếp tục nêu ra hai khái niệm: từ trường điện,  đường sức.
Năm 1839, sức khỏe của Faraday bị giảm sút nghiêm trọng do ông làm  việc quá sức, lại phải tiếp xúc thường xuyên với các hóa chất độc hại đặc biệt là  thủy ngân. Ông buộc phải đến vùng núi Alps ở Thụy Sĩ để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Thời gian này, ông đã viết rất nhiều nhật ký và sưu tầm nhiều tiêu bản  thực vật. Ngoài ra, ông vẫn để tâm suy nghĩ đến vấn đề hóa lỏng chất khí và đạt  được một số thành công. Năm 1844, khi sức khỏe đã khá lên, Faraday lại tiếp  tục nghiên cứu thực nghiệm và phát hiện ra hiệu ứng ánh sáng xoay khi có từ  trường. Sự phát hiện này đã chứng minh mối liên quan giữa ánh sáng và từ  trường. Tháng 11 năm 1845, Faraday lại có một phát hiện mới về tính chống từ  trường của vật chất qua thực nghiệm. Qua nhiều lần thực nghiệm, Faraday đã  chia vật chất thành hai loại: một loại ở thể thuận từ (như: sắt, kền, cô - ban. . .), còn một loại ở thể kháng từ.
Như vậy, có thể nói, trong lĩnh vực điện học, Faraday đã có rất nhiều  đóng góp lớn như: dùng thực nghiệm để chứng minh điện tích là trường tồn,  phát hiện hiện tượng tự cảm ứng, phát minh điện áp kế để trắc lượng điện áp. Theo thống kê, những phát minh, phát hiện và cải tiến trong điện học của  Faraday lên đến 158 hạng mục. Những cuốn nhật ký của Faraday cũng được  đóng thành sách gồm có 3236 trang. Năm 1932, Học viện Hoàng gia Anh đã cho xuất bản những cuốn nhật ký này thành 7 cuốn lớn.
Cuộc đời Faraday là cuộc  đời của một nhà khoa học đích thực. Ông không hề quan tâm đến tiền bạc cũng  như danh vọng. Ông đã bỏ qua nhiều cơ hội để trở nên nổi tiếng, ví dụ như năm  1857, Học viện Hoàng gia Anh bầu ông làm hội trưởng nhưng ông từ chối. Một  lần khác, ông lại từ chối việc phong tặng danh hiệu Hầu tước của triều đình. Ông  nói: “Tôi vinh dự làm một người bình dân, không muốn trở thành quý tộc”. Lối sống khiêm nhường ấy đã khiến  rất nhiều người nể phục Faraday. Ông thường trả lời bạn bè mỗi khi họ thắc mắc  về những lần từ chối danh vọng rất đáng tiếc của ông rằng: “Từ trước tới nay, tôi  chưa từng làm việc để theo đuổi những vinh dự như vậy''.
Ngoài thời gian dành cho khoa học, Faraday không hề tiếc thời gian dành  cho việc giảng dạy. Với ông, đó không chỉ là một niềm vui mà còn là một trách  nhiệm to lớn. Ông là người thầy có trách nhiệm rất cao. Ông luôn để ý từng chi  tiết một trong buổi giảng dạy của mình, dù đó chỉ là những vấn đề ngoài lề như:  vấn đề thông gió cho lớp học, vấn đề chiếu sáng hay vấn đề âm vang ... Faraday  cũng rất quan tâm đến vấn đề phương pháp giảng dạy. Ông cho rằng khi giảng  bài phải thực nghiệm để xây dựng hình tượng trực quan. Trong một bức thư gửi  bạn, ông viết: “... để hấp dẫn thính giả, cần phải chú trọng nhiều về phương thức  diễn giải, nói chuyện đừng quá mau, đừng quá vội để tránh lộn xộn không rõ  ràng. Người giảng bài cần phải chậm và có tiết tấu, diễn đạt tư tưởng một cách nhẹ nhàng, làm cho tư tưởng của mình đi vào đầu óc của thính giả một cách rõ  ràng, lưu loát”. Cho tới tận ngày nay, Học viện Hoàng gia Anh vẫn duy trì  những nguyên tắc giảng dạy mà Faraday đã đề ra bằng kinh nghiệm và lòng tận  tâm với công việc của ông.
Năm 1824, Faraday bắt đầu giảng dạy tại Học viện Hoàng gia Anh. Năm  1825, ông mở một lớp gọi là “Buổi giảng bài tối thứ sáu” hằng tuần. Cho tới  năm ông nghỉ hưu, năm 1862, Faraday đã thực hiện hơn 100 lần giảng dạy theo  kiểu này. Nội dung diễn giảng rất rộng, gồm có điện, từ, lực tuyến, máy dệt tơ  chạy bằng điện, chế tạo đá quý nhân tạo, vấn đề thông gió dưới hầm lò, đèn  chiếu sáng, công nghệ mạ bạc trên kính, công trình đường hầm. . . Thính giả đến  nghe Faraday diễn thuyết luôn ngồi chật cả khán phòng. Người ta không chỉ bị  thu hút bởi những tri thức mới mẻ mà Faraday mang lại mà còn bị hấp dẫn bởi  cách thức diễn giải thú vị của ông. Faraday thường để cho các thính giả tự do cắt  ngang lời ông để hỏi, thậm chí có thể cùng lên bục giảng để tranh luận. Ngoài các buổi giảng dạy vào tối thứ sáu như trên, Faraday còn tổ chức một hoạt động  thường niên vào các lễ Giáng sinh hằng năm. Ông đã duy trì được ''Buổi nói  chuyện khoa học cho thiếu niên nhân lễ Giáng sinh'' trong suốt 19 năm. Những  buổi giảng dạy mang tính chất phổ thông như vậy của Faraday đã phổ cập tri  thức cho rất nhiều người. Dù không đào tạo một người học trò nào để kế nghiệp,  cũng không xây dựng học phái của riêng mình nhưng thực sự, Faraday đã là người thầy của một số đông nhân dân. Bài diễn giảng nổi tiếng nhất của ông là  “Lịch sử hóa học của cây nến”. Bài giảng này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và còn được lưu hành cho đến ngày nay.
Không chỉ là một người thầy vĩ đại của số đông, Faraday còn là một con  chiên ngoan đạo của giáo phái Sandemanians. Đây là giáo phái mà cả ông và  người vợ của ông đều tin tưởng tuyệt đối. Dù là một nhà khoa học thực nghiệm  nhưng Faraday không hề bác bỏ tôn giáo. Với ông, tôn giáo và khoa học chẳng  hề trái ngược nhau. Nếu khoa học đối với ông là niềm đam mê thì tôn giáo lại là  sự sùng kính thành khẩn. Bất kỳ chủ nhật nào, hai vợ chồng Faraday cũng đều đi  lễ nhà thờ rất đúng giờ. Năm 1860, khi đã già, Faraday được bầu làm trưởng lão  của giáo hội, tham gia chủ trì nghi lễ và giảng đạo.

Cuộc đời của Faraday đã trải qua rất nhiều thăng trầm nhưng là một cuộc  đời chân chính. Những gì ông để lại cho nhân loại là vĩnh cửu. Đúng như một  nhà bác học người Đức đã nói: ''Chừng nào loài người còn cần sử dụng điện thì  chừng đó mọi người còn ghi nhớ công lao của Michael Faraday''. Dù là người  của mọi thời đại, Faraday vẫn giữ đức tính khiêm nhường của ông cho đến lúc  qua đời Ngày 25 tháng 8 năm 1867, Faraday đi vào cõi vĩnh hằng một cách nhẹ  nhàng trên chiếc ghế của ông. Ông được an táng tại công mộ High Gate. Trên  bia chỉ khắc họ tên như những người bình thường khác mà không hề có lời lẽ  nào dài dòng. Đó chính là ước nguyện của ông - được làm một người bình  thường cho đến lúc chết. Song dù thế nào đi nữa, Michael Faraday cũng không  hề là một người bình thường của nhân loại.

Shakespeare (1564 - 1616)

Không thể nghi ngờ rằng Shakespeare là linh hồn của văn hóa Phục hưng Anh. Sự nghiệp sáng tác của Shakespeare làm người ta kinh ngạc. Hiếm có nhà  văn nào mà có nhiều tác phẩm trường tồn như ông. Đặc biệt ở địa hạt kịch, ông là một đỉnh cao đầy thách thức đối với bất kì nhà soạn kịch nào. Cống hiến của ông là giúp con người hiểu thêm về mình. Nghệ thuật đối với ông là một tấm  gương phản chiếu cuộc sống, rằng chớ nên ''vượt khỏi sự khiêm tốn, giản dị của tự nhiên”. Đó là những quan điểm nghệ thuật tiến bộ không chỉ với thời đại ông  mà còn đối với những thời đại sau, kể cả hiện nay, khi nhiều trường phái, nhiều học thuyết nhân danh là “mới'' đang muốn kéo nghệ thuật đi chệch khỏi con  đường chân chính.

Nước Anh bước vào thời đại Phục hưng muộn hơn so với Italia và một số nước Tây Âu khác. Cùng với xu thế tiến lên chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu, nước Anh mau chóng hình thành nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt ở miền Nam. Nhưng kéo theo sự phát triển của những công trường là hàng nghìn nông dân bị mất đất, bị xua đuổi và trở thành nhân công rẻ mạt cho chủ tư bản. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra và đều bị dìm trong biển máu. Số phận của thợ thủ công cũng khốn khổ không kém. Họ bị bóc lột thậm tệ, lao động từ 12 đến 14 giờ với đồng lương đói rách. Họ và những người nông dân đã trở thành nạn nhân của mối liên kết giữa tư sản và tầng lớp quý tộc mà đứng đầu là nhà vua.

Sự liên kết chặt chẽ giữa tư sản và lớp quý tộc mới đã thống nhất thị trường trong nước và bành trướng thế lực ra bên ngoài. Kết quả là nước Anh nhanh chóng trở thành cường quốc số một ở Châu Âu dưới thời nữ hoàng Elilabeth I. Đây là điều kiện thuận lợi biến London kinh đô của nước Anh trở  thành kinh đô của triết học, khoa học kĩ thuật, văn học và nghệ thuật. . . Văn hoá Phục hưng khi vào Anh cũng phát triển mạnh như vũ bão, Nó cũng mang theo tính chất của mọi phong trào văn hoá Phục hưng đã phát triển trên lục địa Châu  Âu: tinh thần chống chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa giáo điều kinh viện Trung cổ nhằm giải phóng cho trí tuệ của con người, khẳng định cuộc đời trần thế, đòi hỏi giải phóng cá nhân, niềm vui say trước những phát kiến về thiên văn và địa lí, niềm say mê trước vẻ đẹp của những tác phẩm văn nghệ cổ đại Hi Lạp...
Nhưng bên cạnh những tính chất chung đó, văn hoá Phục hưng Anh còn biểu hiện những đặc trưng cơ bản khác, do lúc này nước Anh là ''một quốc gia tư bản chủ nghĩa điển hình''. Ở đấy là những mâu thuẫn khốc liệt của sự phân biệt giàu nghèo, tác dụng của đồng tiền đối với nhân phẩm và tình thương, những quy luật cạnh tranh. . . Tình hình đó đã chi phối hướng phát triển của văn học nghệ thuật, để phản ánh trọn vẹn những mặt đối lập, những mâu thuẫn không thể điều hoà đó, kịch là loại hình nghệ thuật có khả năng hơn cả. Đây lại là điểm  mạnh khi nước Anh vốn đã có truyền thống lâu đời về kịch.
Khoảng thời gian từ 1580 cho đến 1642, nền kịch Anh phát triển mạnh mẽ, phong phú xưa nay chưa từng thấy. Nhiều xu hướng với nhiều tác phẩm đua nhau nảy nở, chủ yếu theo hai hướng chính: Đó là khuynh hướng của những cuộc tình éo le, trắc trở song rút cuộc là thành công. Những chuyện nhẹ nhàng, vui vẻ, với ngôn từ thấm đẫm chất trữ tình, chải chuốt. Khuynh hướng thứ hai  thì ngược lại. Miêu tả những cảnh tượng hãi hùng, rùng rợn, đầy máu và nước  mắt dựa trên chủ đề về hận thù và khát vọng. Trên sân khấu chỉ toàn cảnh chết  chóc, đâm chém khốc liệt.
Nhưng từ khi Shakespeare xuất hiện, sân khấu kịch chỉ dành riêng cho ông. Ông chính là nhà soạn kịch, nhà thơ thiên tài, người đại biểu xuất sắc nhất cho văn đàn nước Anh thời Phục hưng.
William Shakespeare sinh ngày 23.4.1564 tại thị trấn Stratford nằm trên bờ sông Avon, thuộc miền Trung nước Anh. Cha ông rời bỏ nghề nông ra thị trấn này làm ăn và trở nên khá giả, có lúc ông đã làm thị trưởng mấy nhiệm kì. Nhưng sau đó gia đình làm ăn sa sút, năm 14 tuổi Shakespeare phải bỏ học đi  làm kiếm sống. Năm 18 tuổi, Shakespeare lập gia đình và khi 23 tuổi ông để vợ con lại thị trấn quê hương hăm hở ra London với ước mơ lập nghiệp. Ông đến  với rạp kịch được xây dựng lần đầu tiên ở Anh và làm đủ công việc từ chân giữ  ngựa, chân soát vé, chân nhắc vở rồi làm diễn viên. Ông thử cầm bút soạn lại, cải biên một vài vở cũ, viết chung với soạn giả khác một hai vở mới, sau đó mới sáng tác một mình. Trong quá trình sáng tác, ông nhận thấy mình còn thiếu hụt nhiều kiến thức, Ông đã tự mày mò học về lịch sử, triết học... tự quan sát đời sống giới thượng lưu, và nhờ mối quan hệ với nhiều người mà ông thâm nhập vào mọi môi trường sống để hiểu biết về xã hội. Ông cũng được những người trong nghề kịch chỉ bảo, tiếp thu vốn kinh nghiệm trong dàn dựng kịch, nhờ vậy  ý tưởng sáng tạo của ông đã mau chóng đơm hoa kết trái.
Shakespeare nổi tiếng chỉ sau 5 năm có mặt ở kinh thành. Hai mươi năm cầm bút, ông để lại gần 40 vở kịch, 2 bản trường ca, một tập gồm 154 bài thơ xone. Tính trung bình mỗi năm ông viết 2 vở kịch. Ông được thừa nhận là nhà thơ, nhà soạn kịch lớn nhất của thời đại mình. Người cùng thời coi ông là ''nhà  thơ giọng lưỡi ngọt ngào'' (The honey - tongued poet), là ''người vung ngọn dáo''  làm “náo động kịch trường''... Victor Hugo, Goeth coi ông là một bậc thầy của thi ca và kịch. Cuộc đời sáng tác của Shakespeare thường được chia thành bốn  giai đoạn.
Giai đoạn đầu khoảng từ 1590 đến 1594. Đây là thời kỳ ông viết các vở  Hài kịch của những hiểu lầm, Hai chàng công tử ở Veron, Công cốc vất vả vì tình, vở kịch lịch sử Henry VI. Người ta thường coi đây là thời kì tập sự, thử sức của Shakespeare, thời kì ông sửa chữa cải biên các vở kịch cũ và hợp tác với soạn giả khác khi viết vở mới. Đây cũng là thời kì Shakespeare cho ra đời một  số bài thơ xone và bi kịch nổi tiếng Romeo và Juliet.
Giai đoạn thứ hai từ 1594 đến 1600 là thời kì ông sáng tác những vở kịch lịch sử nổi tiếng như Henry VI, Henry V... cùng loạt hài kịch vui nhộn như ầm ĩ vì chân không đâu, Xin tuỳ thích, Đêm thứ 12, Giấc mộng đêm hè, Chàng lái  buôn ở Venice. Đây là thời kì tài năng của Shakespeare nở rộ, những vở kịch phản ánh cảm quan yêu đời, lạc quan, tự hào về đất nước, phác hoạ không khí của ''Cái nước Anh vui vẻ''.
Giai đoạn thứ ba từ 1601 đến 1608 là giai đoạn của những vở bi kịch lớn như Hamlet, Othello, Vua Lear, Macbeth, Antony và Cleopatra ... giai đoạn này cảm hứng lạc quan vui vẻ đã thay bằng thái độ phê phán lên án những mặt đen tối, những cái xấu xa, lên án tội ác và bạo lực nêu bật sự khủng hoảng bế tắc của cả một xã hội, một thời đại.
Giải đoạn cuối cùng từ 1609 đến 1613 là giai đoạn của những vỏ kịch tình duyên thơ mộng, đầy gian nan trắc trở nhưng cuối cùng tốt đẹp Pericles, Cymbeline, Câu chuyện mùa đông, Bão táp, Sáng tác thời kì này mâu thuẫn có phần dịu xuống, không còn gay gắt quyết liệt như thời kì trước, vì vậy mà có  những kết thúc vui vẻ với cảnh sum họp đoàn viên.
Từ 1613, Shakespeare không viết nữa, về lại thị trấn quê hương và chỉ ra London vài lần. Và ngày 23.4. 1616 ông từ trần. Trong suốt cuộc đời sáng tác người ta vẫn thường thắc mắc tại sao Shakespeare ngừng viết khi cây bút của ông chưa hề tỏ ra đuối sức? Nguyên nhân thì  nhiều, mỗi người lại giả thiết một kiểu. Nhưng nguyên nhân chủ yếu phải chăng liên quan đến 20 năm sáng tác tương đương với bao nhiêu biến cố trong lịch sử nước Anh.
Thời đại của Shakespeare là thời của những chuyển biến dữ dội từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản. Theo Shakespeare, ông viết kịch là để ''chìa ra  một tấm gương tự nhiên nhằm làm cho đạo đức thấy hình ảnh của nó, thói vô  đạo đức tự biết khinh bỉ và mỗi thế kỉ, cả thời đại nói chung có thể nhận ra bộ mặt và tính cách của nó'' (Hamlet, hồi III cảnh 2). Thời kỳ viết những vở kịch vui vẻ là thời kì mà tâm trạng của ông có nhiều đắc ý, hân hoan trước chiến thắng của nước Anh, trước nước Anh đang lớn mạnh. Nhưng càng về sau, trong  kịch của ông càng nhiều yếu tố bi, âm hưởng của niềm lạc quan hầu như không còn. Nhân vật Hamlet đã nói ''Thật là một thời đại đảo điên tan tác'', ''Cả thế giới giờ đây là một nhà tù, một nhà tù đen tối'' và tất nhiên là ''Giờ đây ta không còn cảm thấy vui bên cạnh con người''. . . Thế giới quan trọng những vở bi kịch hết sức tăm tối, nặng nề, phần nào đó Shakespeare không chìm sâu vào những bi kịch tăm tối có lẽ là niềm tin yêu đối với công chúng, những người luôn say mê  và ủng hộ ông tiếp tục sáng tác.
Còn một nguyên nhân trực tiếp khiến Shakespeare từ giã sân khấu, đó là thái độ thù địch của phái Thanh giáo và của giới cầm quyền đối với nghệ thuật sân khấu, cùng với thị hiếu chuộng hình thức hoa mĩ, cầu kì đang thắng thế, đi ngược lại với quan điểm của ông là ''Chớ bao giờ vượt ra khỏi cái bình dị của Tự nhiên''. Một khi nghệ thuật chỉ đơn thuần là mua vui, giải trí dễ dãi thì sứ mạng của Shakespeare - người nghệ sa chân chính - cũng kết thúc!
Trước khi nói về kịch, đóng góp to lớn nhất của Shakespeare, cũng không nên quên rằng Shakespeare còn là một nhà thơ. Ông có 2 truyện thơ và 154 bài  xone, những bài thơ 14 dòng xuất xứ từ Italy nhưng đã được Shakespeare điều chỉnh về âm vận cho phù hợp với tiếng Anh. George Gissing, nhà thơ Anh thế kỉ 19 đã nhận xét về thơ của Shakespeare như sau: ''mỗi một từ đều có hàm ý phong phú hoàn chỉnh, mỗi một dòng đều có tiết tấu vui tai như âm nhạc.
Shakespeare có gần 40 vở kịch. Căn cứ vào đề tài có thể phân thành nhiều nhóm như: kịch lịch sử, hài kịch, bi kịch. Trong mỗi nhóm, Shakespeare lại có những vở kịch xuất sắc khác nhau.
Kịch lịch sử có thể phân thành hai dòng, dòng lịch sử của nước Anh và dòng lịch sử lấy đề tài La Mã cổ đại. Kịch lịch sử cho thấy quan điểm chính trị của ông là tán thành và ủng hộ nhà nước quân chủ tập trung có khả năng thống nhất quốc gia và ''chặt cụt lưỡi kiếm của những tên phản bội nào lăm le muốn kéo trở lại những ngày tang tóc và làm cho nước Anh đáng thương này phải khóc tuôn từng suối máu''. Shakespeare chủ tâm mượn lịch sử để rút ra bài học: hôn quân và bạo chúa, vua nhu nhược, những kẻ quyền cao chức trọng mà đắm đuối trong tửu sắc thì kết quả cuối cùng không tránh khỏi là hoạ diệt vong. Ông thấy được và miêu tả sức mạnh nhân dân có thể lật nhào bạo chúa, hôn quân.
Các nhà nghiên cứu cho rằng những vở kịch lịch sử của Shakespeare làm sống lại quá khứ. Kịch của ông đem lại một cái nhìn sắc sảo đối với các sự kiện,  các nhân vật lịch sử. Ông luôn luôn lựa chọn những nhân vật có vấn đề trong những thời điểm có vấn đề, tập trung khắc họa tính cách nhân vật khi nhân vật  lâm vào hoàn cảnh bị dồn nén.
Shakespeare là một cây bút hài kịch độc đáo. Ông viết khá nhiều hài kịch như Hài kịch của những hiểu lầm, Cô nàng đáo để đã thuần rồi, Cong cốc vất vả  với tình, Giấc mộng đêm hè, Chàng thương gia thành Venice, Đêm thứ mười  hai. . . Những vở hài kịch của ông trước hết là để mua vui cho công chúng nước  Anh lúc bấy giờ, các chủ đề thường là tình yêu đôi lứa, để viết nên những vở hài kịch ông thường mượn cốt truyện nước ngoài của các nhà văn Ý, Pháp, Tây Ban  Nha, hay những câu chuyện từ thời La Mã cổ đại.
Vở hài kịch Giấc mộng đêm  hè đưa người xem vào một thế giới nửa hư nửa thực. Câu chuyện xảy ra tại  thành Ten, trong cánh rừng gần thành phố. Còn  ''Đêm thứ mười hai'' cũng chung một chủ đề về tình yêu. Câu chuyện xảy ra  trong thế giới trần gian này, ở Ilirya - dưới bầu trời của phương Nam ngào ngạt hương hoa, Công tước Osino say mê quận chúa Olyvia đến khắc khoải đêm ngày. Chàng đang cần một sứ giả tình yêu đến làm cầu nối vôi Olyvia. Vừa lúc đó, Vaiola, một cô gái xinh đẹp cải trang nam giới lấy tên là Xezario để đi tìm  Xebaxchia - anh trai nàng xuất hiện. Tưởng đó là một chàng trai, Osino dốc cạn bầu tâm sự, Vaiola vô cùng xúc động trước tình yêu đắm say của chàng trai, nàng nhận lời làm thuyết khách cho chàng. Nàng đem hết tài năng thuyết phục  Olyvia nhưng  trớ trêu thay, Olyvia lại nhầm tưởng đó là một chàng trai nên đem lòng yêu người thuyết khách hơn yêu chàng công tước Vaiola vẫn phải giấu kín tung tích, nàng càng chứng tỏ là trai thì càng khiến quận chúa yêu mình. Càng chứng kiến nỗi đau khổ của công tước Osino bao nhiêu, Vaiola càng xúc động và yêu chàng bấy nhiêu. Sự xuất hiện của Xebaxchia đã gỡ hết mọi mối tơ mành. Chàng và Vaiola là anh em sinh đôi, giống nhau đến nỗi quận chúa cũng nhầm. Khỏi phải nói, chàng đáp ứng lại tình cảm nồng nàn của quận chúa, lúc bấy giờ, Vaiola cũng chẳng cần che giấu mình giả trai nữa. Công tước lại vô cùng sung sướng ngỏ lời cầu hôn nàng vì thấy rõ Vaiola là người con gái chẳng những thông minh, xinh đẹp mà còn có tấm lòng cao quý! Câu chuyện kết thúc,  tiếng cười vút lên sảng khoái và mãn nguyện vì tình yêu cuối cùng đã trọn vẹn.
Trong hai vở kịch nói trên, Shakespeare đã thả hồn mình vào những cảnh thiên nhiên sống động, những cảnh đôi lứa hẹn hò, tâm trạng nhân vật được thể  hiện một cách tinh tế từ thương nhớ, chờ mong đến hi vọng và hạnh phúc...  Đây là hai vở hài kịch kết hợp tiếng cười và tính lãng mạn bay bổng. Trong khi đó, ''Chàng thường gia thành Venice'' lại kết hợp tiếng cười với những bài học sâu sắc về tình người. Antonio là một thương gia giàu có và nổi tiếng hào hiệp ở Venice. Để giúp bạn là Bassiano cầu hôn được nàng Portia, Antonio - vì không  sẵn tiền mặt – đành phải đến vay Shylock - tên Do Thái cho vay nặng lãi, ba nghìn đồng tiền vàng. Shylock vốn không ưa gì Antonio, hắn ra điều kiện: nếu đến kì hạn mà chàng không trả đủ thì chàng phải để cho hắn xẻo 1/2 livro thịt trên người chàng. Chuyện xảy ra như dự kiến của hắn, Antonio không có tiền trả nợ. Shylock kiện ra toà. Trong phiên toà, ai ai cũng khuyên hắn nên có lòng thương người nhưng hắn khăng khăng đòi phải thi hành bản cam kết. Phiên toà đang bế tắc thì Bassiano về. Chàng đưa tiền cứu bạn, hắn từ chối. Chàng bèn trả  cho hắn gấp đôi, thậm chí gấp mười lần nhưng Shylock vẫn khăng khăng từ chối tiền. Phiên tòa lại rơi vào bế tắc. Bỗng xuất hiện một luật sư tuấn tú khôi ngô, theo sau là viên thư kí cũng tuấn tú khôi ngô. Sau khi khuyên bảo Shylock nên có lòng khoan dung và bị hắn bác bỏ. Luật sư đề nghị thi hành bản án nhưng với  điều kiện, Shylock không được làm đổ dù chỉ một giọt máu của Antonio. Hắn ngớ người trước điều kiện đó, nhưng đã quá muộn, hắn vừa không thể hành tội  Antonio mà còn bị toà trừng phạt. Bassiano mời luật sư là các bạn đến mừng  thắng lợi, giữa tiệc vui, mọi người mới vỡ lẽ rằng luật sư tài giỏi chẳng phải ai khác là nàng Portia.
Trong quá trình sáng tạo, Shakespeare không chỉ hướng sự chú ý vào nhân vật Antonio mà ngòi bút của kịch gia còn tái hiện hình ảnh hai nhân vật đối nghịch nhau: Portia và Shylock. Một bên đại diện cho chủ nghĩa nhân văn, một  bên là đại diện của những thói xấu xa ti tiện. Sự thắng lợi của Portia cũng là sự thắng lợi của nhân ái và lương thiện trước những thế lực tàn ác.
Những vở kịch vui của Shakespeare vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay. Nhưng thực sự để đánh giá tài năng vẹn toàn của một kịch gia kiệt xuất như Shakespeare, không thể không nhắc đến những vở bi kịch.
Ro meo và Juliet là vở bi klch đầu tay của Shakespeare, ra đời trong thời kì ông đang hào hứng sáng tác kịch lịch sử, hài kịch và đang được tán dương nồng nhiệt với hai thể loại này. Vở kịch được công diễn và gây nên nỗi xúc động lớn lao trong dư luận. Đó là câu chuyện bi thảm của đôi lứa yêu nhau đã  lấy cái chết để phản kháng lễ giáo phong kiến và mối hận thù truyền kiếp của gia tộc. Câu chuyện bi thảm này vốn là câu chuyện của Italy thời Trung cổ, được một số nhà văn ghi chép lại, dưới ngòi bút tài hoa của ông câu chuyện trở thành  bản tình ca thách thức lễ giáo phong kiến giành lấy quyền tự do yêu đương. Cái  bi ở đây không nằm trong tính cách, không do tính cách nhân vật quy định. Cái  bi ở đây do hoàn cảnh gây ra xô đẩy hai nhân vật trung tâm vào chỗ chết. Vì vậy  đây là vở thuộc phạm trù bi kịch kiểu cũ. Mô típ hận thù dòng họ gây nên tấn bi kịch cũng là mô típ quen thuộc của bi kịch truyền thống từ trước đến bấy giờ.
Lecmantov, nhà thơ Nga nổi tiếng thế kỉ 19 từng say sưa ca ngợi: “Nếu như Shakespeare vĩ đại thì đó là ở Hamlet. Nếu như Shakespeare thật là Shakespeare, một thiên tài vô cùng rộng lớn, đi sâu vào lòng người và những quy luật của vận mệnh, một thiên tài độc đáo, nghĩa là một Shakespeare không ai bắt chước được thì đó chính là ở Hamlet''. Trong suốt vài trăm năm qua, đây vẫn là vở kịch sống động nhất với nhiều cách dựng khác nhau. Cốt truyện của vở kịch được Shakespeare mượn từ một truyện dân gian trong cuốn ''Truyện lịch  sử Đan Mạch''. Và nó cũng được một nhà soạn kịch khá nổi tiếng thời bấy giờ là Thomas Kit chuyển thể trình diễn trên sân khấu. Đến Shakespeare, ông đã thừa  hưởng khá nhiều kinh nghiệm từ những người đi trước, nhưng ông đã cải biến câu chuyện trả thù đơn thuần thành một vở kịch sâu sắc mang đặc trưng thời đại  ông, nói lên những băn khoăn về lẽ sống, về ước vọng của con người. Một tác phẩm tuyệt vời kết hợp giữa thi ca và triết học, giữa nghệ thuật và tư tưởng, giữa  sân khấu và cuộc đời.
Vở Hamlet kể lại câu chuyện phụ vương của hoàng tử Đan Mạch là Hamlet bị người em trai, tức chú của Hamlet là Claudius đầu độc giết chết để  cướp ngôi. Về sau ông ta còn cưới chị dâu, tức mẹ của Hamlet làm vợ. Oan hồn của vua cha về báo mộng đồng thời hối thúc Hamlet trả thù. Đối với một chàng  hoàng tử được nuôi dưỡng bởi tư tưởng nhân văn thì phụ vương cha mình là người tiêu biểu cho sự hiền minh sáng suốt, em đoạt ngôi của anh, cưới chị dâu là một hành động xấu xa khiến cho chàng hoài nghi sự tốt đẹp của thế giới và  mất niềm tin trước sự lương thiện của loài người. Do vậy từ bi kịch cá nhân đã  biến thành bi kịch xã hội. Hamlet buồn than ''Nước Đan Mạch và cả thế giới chỉ là một ngục tù!''.
Từ nỗi đau của riêng mình, Hamlet nhìn rộng ra xã hội và thế giới, Thời đại của chàng là ''thời đại đảo điên tan tác, chàng thất vọng nhận ra sự thoái hoá, biến chất của con người ''Bẩn thỉu thay là đời! Ôi bẩn, bẩn ! Thật là một vườn hoang mọc lên từ những hạt giống độc, đầy rác rưởi thối tha!''. Có lúc quá chán chường, tuyệt vọng chàng muốn tự sát ''Ôi thịt da rắn chắc này hãy chảy ra đi, ta ra đi như một giọt sương!''. Nhưng Hamlet không gục ngã. Chàng đã lúc yếu đuối và hèn nhát vì ý định tự tử nhưng cũng dũng cảm tự phanh phủi cái bản ngã  của mình. Đây là lần đầu tiên trong văn học thế giới xuất hiện con người - tự mổ xẻ chính mình nhằm khám phá ra những vấn đề thuộc về bản chất.
Vậy Hamlet đã nhận ra con người là gì? Chàng bộc lộ “Kì diệu thay là con người. . . thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài'' và cái làm nên vẻ đẹp của thế gian, theo Hamlet chính là Lí trí, Tư duy, ''Thật thế! Ông tạo phú cho ta trí suy xét mẫn tiệp biết lường trước tính sau, phải đâu là để cho cái năng khiếu ấy, cái lí trí thần thánh ấy bị hoen rỉ trong tim óc, chẳng được dùng tới?''.Và con người có hai cách sống: chịu đựng hay vùng lên chiến đấu để diệt hết khổ đau. Câu hỏi ''To be or noi to be'' (tồn tại hay không tồn tại) luôn khiến  chàng phải băn khoăn lựa, chàng quyết định: sống, là phải chiến đấu tiêu diệt khổ đau, chiến đấu để khôi phục lại trật tự, làm cho cái thời đại đảo điên của chàng trở nên ''ngay ngắn, vững vàng''. Chàng tự hứa với bản thân “Ôi! từ giờ phút này, ý nghĩ ta phải đẫm máu, nếu không sẽ chẳng có giá trị gì''. Và Hamlet vung lưỡi gươm trừng phạt kẻ phản bội, kẻ giết cha chàng, dẫn dắt mẹ chàng vào con đường tội lỗi. Cái chết của chàng khiến người xem xúc động và thương  tiếc nhưng lại là cái chết không sao tránh khỏi. Điều này liên quan đến thời đại  chàng sống, lí tưởng của chàng là tiến bộ nhưng chưa có khả năng thực tế thực hiện nó. Hơn nữa, bản thân tính cách Hamlet cũng khiến chàng trở thành nhân  vật bi kịch Hamlet hiện thân của sự đau khổ về tâm hồn, nỗi đau không ngừng lớn lên, chàng càng không bằng lòng với những nhìn nhận, lí giải có sẵn. Càng suy tư bao nhiêu, chàng càng bị hành hạ. Bi  quan, hoài nghi, do dự là những nét đậm trong tính cách của chàng và trong hoàn cảnh  nào, chàng cũng chỉ là một người cô đơn giữa thế tục. Việc chàng giả điên nhằm che  mắt kẻ thù, vừa là thái độ muốn tách ra khỏi xã hội xấu xa tầm thường đó.
Chủ nghĩa hiện thực của Shakespeare đã xây dựng nên một hình tượng cực kì phức tạp, đa dạng và phong phú. Về nghệ thuật, ông đã giành thắng lợi quyết định cho thể loại bi kịch tính cách mà chính ông đã khai sinh ra nó. Ông còn sáng tạo nên thủ pháp nhân đôi, trong con người của Hamlet luôn luôn tồn tại hai con người đấu tranh với nhau: một con người hành động, một con người trầm tư suy nghĩ. Con người thứ nhất quyết tâm bao nhiêu, con người thứ hai lại hoài nghi, băn khoăn, do dự bấy nhiêu. Nghệ thuật tạo không khí bi kịch, đưa người xem vào cái không khí nửa xưa nửa nay, vừa như truyện cổ mà vừa rất thời sự.
Nhắc đến Shakespeare, người ta nhắc đến Hamlet, và cũng nhắc tới những Othello, Vua Lear, Macbeth... đây đều là những kiệt tác của nghệ thuật kịch. Othello là một vở bi kịch của lòng tin tan vỡ. Othello là tên một viên đại tướng da đen có nhiều chiến công hiển hách của Venice được nàng Desdemona yêu thương tha thiết. Người con gái Venice này xuất thân từ một gia đình danh giá nhưng sẵn sàng gạt bỏ thành  kiến về màu da và chủng tộc cũng như quan niệm môn đăng hộ đối để mạnh dạn kết hôn bí mật với Othello. Đây là một cuộc hôn nhân dựa trên nền tảng của sự chân thành hiểu biết lẫn nhau được chủ nghĩa nhân văn ca ngợi. Nhưng nó đã bị sự phá hoại của âm mưu và tham vọng. Viên tướng dưới quyền của Othello là Iago ghen ghét với chàng nên đã bày mưu gian để hãm hại Othello. Hắn vu khống Desdemona tư thông  với tên phó quan. Othello là người thành thực dễ tin, trong cơn giận dữ đã giết chết vợ  mình. Khi nhận ra sai lầm của mình, Othello tự sát.
Trong khi đó, Vua Lear lại lấy đề tài từ câu chuyện cổ của xứ Britain. Vua Lear đã già, có hai cô con gái khôn khéo luôn nói với vua cha những lời đường mật. Cô thứ  ba Cordelia là người yêu cha một cách chân thành nhưng ghét thói ninh bợ giả dối. Do vậy, nàng bị vua cha ghét và gả đi lấy chồng xa, không được chia một xu nào. Hai cô chị sau khi giành được quyền thế quay sang đới xử tệ bạc với vua cha. Vua Lear tỉnh ngộ, nhưng Cordelia không may chết trận. Vì quá đau khổ, nên vua Lear cũng chết  theo sau khi phát điên. Vở kịch vua Lear nhằm thể hiện sự xung đột giữa lòng chân  thành nhân ái lấy chủ nghĩa nhân đạo làm cốt lõi với chủ nghĩa vị kỷ. Cordelia tiêu biểu cho sự chân thành nhân ái và khoan dung, còn vua Lear sau khi nếm trải đau khổ cũng nhận ra đâu là lòng trung thành. Hai cô con gái lớn cấu kết với nhau để cùng mưu lợi nhưng có sự xung đột trong quyền lợi, họ lại ra tay hại lẫn nhau. Họ đã chà đạp lên mối quan hệ cơ bản nhất và tình cảm thiêng liêng nhất của con người là mối quan hệ giữa cha con, mối quan hệ giữa chị em và mối quan hệ vợ chồng. Cái chết của Corledia - người đại diện cho chính nghĩa đã làm tăng thêm tính chất gay gắt và nặng nề trong vở kịch.
Macbeth là vở kịch kể lại chuyện đại tướng Macbeth, một vị tướng người Scotland thiện chiến gan dạ đã thí vua đoạt ngôi và cuối cùng bị tiêu diệt qua  một cuộc chinh phạt. Lời dự đoán của phù thuỷ cũng như lời xúi bẩy của bà vợ đã thôi thúc dục vọng và dã tâm sẵn có trong lòng ông ta, đưa ông ta tới chỗ giết vua đoạt ngôi. Bắt đầu bằng tội lỗi thì cũng phải dùng tội ác để củng cố địa vị của mình. Không có vở kịch nào của Shakespeare lại phơi trần tham vọng, chuyên chế và tàn bạo của cá nhân mạnh mẽ như Macbeth. Nhưng, sự trừng phạt cuối cùng của Macbeth không chỉ qua đạo quân chính nghĩa lật đổ kẻ tiếm quyền, mà đồng thời còn ở sự giày vò suốt ngày đêm từ trong chút ít lương tri  còn tồn tại. Ông ta giết hại nhà vua trong giấc ngủ, thì kể từ đó ông ta cũng ''sát hại giấc ngủ'' của chính mình. Shakespeare đã rất tài tình khi mô tả tâm trạng của một tên sát nhân không còn đường thoát, kinh tởm bàn tay vấy máu của  chính mình ''Nghiêng hết nước biển có thể rửa sạch được hai bàn tay vấy máu  của tôi không? Không! Trái lại hai bàn tay của tôi sẽ làm cho nước biển trở  thành máu đỏ''. Macbeth được thừa nhận là một vở bi kịch kiệt tác còn vì nghệ  thuật kết cấu chặt chẽ, nghệ thuật phân tích tâm lí bậc thầy. Đây là vở kịch ngắn nhất trong những vở kịch của Shakespeare, ngắn vì hàm súc và chặt chẽ. Trí  tưởng tượng của nhà soạn kịch đã dựng nên những cảnh tuy không có thực mà vẫn sinh động, như cảnh các oan hồn hiện trước trướng của Macbeth.
Julius Caesar cũng là một vở kịch được hoan nghênh của Shakespeare. Năm 44 trước Công nguyên, nhân vật độc tài của đế quốc La Mã là Caesar quyền lực ngày càng nhiều. Brutus người bạn thân của Caesar, cũng là người đứng đầu của Viện nguyên lão vì sợ Caesar nắm quyền lực đi tới độc tài chuyên  chế, nên đã âm mưu giết hại Caesar trước mặt mọi người tại Viện nguyên lão. Trong bài diễn văn với lập luận vững vàng, Brutus giải thích với thị dân La Mã  về động cơ ngay thẳng của ông ta. Ông ta giết Caesar vì ''không phải vì tôi thương Caesar quá ít, mà chính tôi thương La Mã quá nhiều. Các bạn có bằng  lòng để cho Caesar sống mà hàng vạn nhân dân phải chết trong kiếp nô lệ, hay là bằng lòng để cho một mình Caesar chết mà muôn dân tự do?''. Nhưng sau đó,  Brutus đã bị những người trung thành với Caesar buộc phải tự sát. Sự nghiệp sáng tác của Shakespeare làm người ta kinh ngạc. Hiếm có nhà văn nào mà có nhiều tác phẩm trường tồn như ông. Đặc biệt ở địa hạt kịch, ông là một đỉnh cao đầy thách thức đối với bất kì nhà soạn kịch nào. Cống hiến của ông là giúp con  người hiểu thêm về mình. Nghệ thuật đồi với ông là một tấm giương phản chiếu cuộc sống, rằng chớ nên ''vượt khỏi sự khiêm tốn, giản dị của tự nhiên''. Đó là những quan điểm nghệ thuật tiến bộ không chỉ với thời đại ông mà còn đối với những thời đại sau, kể cả hiện nay, khi nhiều trường phái, nhiều học thuyết nhân danh là ''mới'' đang muốn kéo nghệ thuật đi chệch khỏi con đường chân chính.
Không thể nghi ngờ rằng Shakespeare là linh hồn của văn hoá Phục hưng Anh, một tác gia Anh sống cùng thời là Ben Jonson đã viết những dòng sau đây ca ngợi ông:
Linh hồn của thời đại...
Shakespeare đã vươn lên!
Người chẳng khác gì một tấm bia sừng sững
Những tác phẩm bất hủ của người sẽ cùng tồn tại đến nghìn thu

Chúng ta sẽ vĩnh viễn đọc nó và tán dương nó!

Henry Ford ( 1863 - 1947)

Ông không phải là người giàu nhất nước Mỹ, nhưng khi bình chọn những nhà kinh doanh có ảnh hưởng sâu xa đến xã hội và lịch sử Mỹ ông lại là người đứng đầu. Có lẽ do sản phẩm của ông có mặt khắp nơi trên thế giới, có lẽ do ông đã tạo dựng được một sự nghiệp vẻ vang, có lẽ do phương pháp kinh doanh của ông có nhiều sáng tạo, hay quan điểm của ông về việc sử dụng nhân tài, vv...  và có lẽ còn nhiều điều để nói về ông - Henry Ford - Ông vua xe hơi của nước  Mỹ.


Henry Ford sinh ngày 30 tháng 7 năm 1863 trong một gia đình nông dân tại Dearborn, tổ tiên là người Ireland. Cha của Henry là Wilham Ford, ông là một người thợ mộc chuyên cần, còn bà mẹ Mary là người con gái nuôi của  trưởng kíp thợ mộc. Cha mẹ của Henry có tất cả sáu người con, Henry là con cả. Ngay từ lúc còn bé, Henry không thích cầm cây cuốc, cây thuổng để làm nông nghiệp, cũng không thích chăm sóc trại gà, vắt sữa bò, thậm chí, việc làm đó đã  ảnh hưởng đến thái độ của ông đối với thịt gà và sữa bò sau này.


Năm Henry 12 tuổi, người mẹ yêu quý của ông qua đời. Có thể nói tính cách kiên cường của mẹ đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời của Henry. Henry từng nói: “Tôi đã học được từ mẹ tôi phương pháp sinh tồn trong xã hội hiện đại...”. Henry rất hiếu kỳ, ông rất có hứng thú với những đồ vật có cấu tạo bên  trong là máy móc. Khi gặp những đồ vật như vậy ông rất muốn mở ra. Sở thích thậm chí đã khiến người trong nhà khi trông thấy Henry đi đâu trở về, thì vội vàng cất giấu ngay những đồ vật mới hoặc những máy móc trong nhà. Trong  ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường được cất giữ một cách có ngăn nắp nào là máy khoan lỗ, giũa, búa, bu-lông, cưa, vít vặn, và những ốc vít. Điều làm cho mọi  người ngạc nhiên, là năm đó Henry chỉ mới 7 tuổi.

Thời thơ ấu Henry được công nhận là một đứa bé nghịch ngợm nhất trong làng. Chỉ có anh làm công dài hạn người di dân Đức là cho phép Henry mở tung chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng của mình ra, khiến Henry hết sức vui thích. Người này đã nhiệt tình giải thích tường tận cho Henry biết kết cấu và nguyên lý của chiếc đồng hồ đeo tay. Henry ngoài việc say mê đối với chiếc đồng hồ đeo tay, ông còn rất hứng thú đối với đầu máy xe lửa. Có lần ông theo cha tới thành phố Detroit. Tại một nhà ga xe lửa, Henry nhìn thấy đầu máy xe lửa. Đối với “con quái vật” này ông cảm thấy hết sức hứng thú, khiến cho người trưởng đoàn xe lửa có lòng tốt đã cho phép ông lên đầu xe lửa, và mở máy cho đầu xe chạy tới chạy lui, khiến lòng hiếu kỳ của Henry được hoàn toàn thỏa mãn. Henry vui thích ngồi trên chiếc ghế điều khiển, lại đưa tay kéo còi vang rền. Trong nhà bảo tàng Ford cho tới nay vẫn còn trưng bày hình ảnh đầu chiếc xe lửa chạy bằng máy hơi nước mà lúc còn nhỏ Henry Ford cảm thấy hết sức hứng thú. Trong cả cuộc đời Henry Ford không bao giờ quên hai người, người công nhân làm công dài hạn trong gia đình đã cho ông mở tung chiếc đồng hồ đeo tay của mình và viên trưởng xe lửa đã cho phép ông ngồi trên đầu máy xe lửa để chạy tới chạy lui. Sau khi trở về nhà, Henry bắt đầu chế tạo động cơ. Lúc ở trường ông chế tạo động cơ máy hơi nước nhỏ, và đã gây ra một sự cố khá nghiêm trọng. Đó là việc chiếc động cơ bằng máy hơi nước của ông bị nổ tung, khiến mảnh đồng, pha lê, sắt bay tung tóe, cắt đứt môi ông và làm bị tổn thương khá nặng trên đầu một người bạn. Sức nổ cũng làm cho hàng rào nhà trường bị sập, đối với việc này Henry không hề tỏ ra thất vọng. Đó là kinh nghiệm đầu tiên của ông đối với việc chế tạo động cơ. Cho dù có gặp trắc trở nhưng đối với cậu bé vừa lên 7 tuổi, Henry đã nổi tiếng khắp cả làng là một thiên tài bé nhỏ.

Năm 1789, Henry Ford bỏ nhà ra đi để tìm kiếm tương lai cho mình. Henry đến thành phố Detroit, vào làm thợ học việc tại xưởng xe Michigan, với tiền công 1,1 USD/ngày. Với số tiền lương đó kể là tương đối cao trong thời bấy giờ. Nhưng, Henry chỉ làm được có sáu ngày thì bị đuổi. Nguyên nhân là do Henry sửa chữa những cổ máy hư một cách quá dể dàng mà những người thợ lâu năm cũng không thể sửa chữa được nhanh như thế được. Điều đó làm cho những người thợ ở đây bất mãn. Nhưng Henry vẫn không nản lòng, trái lại, đã rút được một bài học qua sự kiện đó: “Bất luận làm việc gì đều không thể phơi bày hết những điều mình hiểu biết ra cho mọi người thấy!”.

Sau đó, Henry lại lần lượt đến xưởng đồ đồng và xưởng đóng tàu tại Detroit để làm việc. Ở nơi nào ông cũng cảm thấy mình không học thêm được gì, nên đã xin thôi việc. Cuối cùng, Henry trở về nông trại của cha để phụ một tay với cha mình. Việc xin từ chức của Henry Ford lần này là một bước ngoặt trong cuộc đời của ông. Ông trở về nhà không phải vì lẽ không học được gì ở Detroit, mà là có một nguyên nhân khác. Lúc bấy giờ thời tiết đã vào đông, cả vùng Dearborn cũng đã phủ đầy tuyết trắng. Tất cả những việc nhà nông đều phải tạm ngừng. Henry muốn nhân lúc nông nhàn, ở yên trong nhà để tiến hành một số nghiên cứu mới. Do vậy, việc ông trở về nhà chính là do lòng “ham muốn phát minh” đã thúc đẩy. Sau khi về nhà không bao lâu, Henry đến một xưởng xẻ gỗ ở trong làng để giúp cho người chủ xưởng là John chạy thử một chiếc động cơ hơi nước theo kiểu di động. Về sau, hãng sản xuất động cơ này đã mời Henry đến làm thao tác viên kiểu mẫu cho loại động cơ di động của họ. Nhờ đó, Henry đã học được rất nhiều tri thức về động cơ hơi nước. Trong việc sửa chữa và cho chạy thử chiếc động cơ hơi nước, đã khiến Henry càng ham muốn hơn đối với việc nghiên cứu và phát minh.

Henry đã nhặt lại chiếc máy cắt cỏ theo kiểu đẩy tay đã cũ kỹ của cha, ông  muốn đem sự hiểu biết về động cơ đã học được tại xưởng gỗ của John cải tạo nó thành một chiếc máy kéo dùng cho nông nghiệp. Ông tự nhốt mình trong một nhà kho để bắt đầu mày mò tìm hiểu, và liên tục chế ra những chiếc máy kéo do ông thiết kế. Một cỗ, hai cỗ, cho đến hai ba chục cỗ máy kéo đã được ông chế tạo. Trải qua suốt hai năm chăm chỉ và khó khăn, cuối cùng Henry đã chế tạo được một máy kéo hơi nước dùng nhiên liệu bằng củi. Henry cho rằng do ở  Dearborn than đá quá đắt đỏ, cho dù chế tạo được một động cơ hơi nước như loại động cơ hơi nước được trưng bày tại cuộc triển lãm vạn quốc năm 1876 có lò hơi nung bằng than đá, thì đối với nông dân ở đây cũng không giúp ích gì  được nhiều. Do vậy nên ông không thực hiện. Henry quyết tâm phát minh ra một loại máy kéo tiết kiệm nhiên liệu. Rõ ràng nơi đây đã tạo nên một tư tưởng kinh doanh của Henry Ford: Có thể tư tưởng đó chính là nguyên tắc tư tưởng đã  tạo ra loại xe “kiểu T” (Ford Model T) của công ty xe hơi Ford sau này.
Ngày 11 tháng 4 năm 1888, Henry lập gia đình, vợ ông - Clara là một người thông minh lanh lợi, đã chủ động gánh vác tất cả công việc trong gia đình sau khi thành hôn. Một điều quan trọng hơn đó là, đối với lý tưởng và sự phấn  đấu cho sự nghiệp của chồng, nàng có một sự lý giải và tín nhiệm hoàn toàn, hơn nữa, còn cùng chồng đồng cam cộng khổ, trở thành một trợ thủ đắc lực của Henry Ford.
- Clara ơi, mau lấy giấy lại đây!

Một buổi tối cuối tuần, Henry bỗng gọi to lên như phát điên. Lúc bấy giờ Clara đang ngồi trước cây phong cầm tại phòng khách. Sau khi nghe tiếng gọi, nàng liền chụp lấy tờ nhạc phổ chạy đến trao cho Henry. Phía sau lưng nhạc phổ  là giấy trắng. Henry sau khi chụp được tờ nhạc phổ liền dùng bút vẽ nguệch ngoạc một động cơ đất trong ông phấn khởi nói lớn như một đứa trẻ: “Chính là nó đây! Clara ơi! Đây chính là cấu tạo của chiếc xe hơi mà anh đang thiết kế”. Đúng vậy, “đó là tuyên ngôn” về việc chế tạo xe hơi của Henry Ford.

Đối với Clara, mọi việc phát hiện đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng của nàng. Sau khi thành hôn được ba tháng, Henry quả quyết mang người vợ trẻ rời  bỏ nông trại, đến làm kỹ sư cơ khí cho công ty Edison đang chuẩn bị cho việc chiếu sáng và nguồn điện lực của thành phố Detroit. Quyết định đó gần như làm cho Clara phát khóc. Nhưng có lẽ qua tinh thần trách nhiệm tiềm tàng đã giúp  cho Clara nhận định được chúng mình nhất định sẽ thành công trong việc chế  tạo động cơ đốt trong.
Năm 1892, Charless Edgar Duryea phát minh ra chiếc xe hơi đầu tiên tại nước Mỹ, làm chấn động cả vùng Tân Thế Giới. Hemy đã bị thành tựu lừng lẫy của ông ta hấp dẫn, khiến trong lòng có một sự háo kỳ rất mãnh liệt, quyết định lập tức bắt tay vào việc nghiên cứu để chế tạo chiếc xe hơi của mình. Lúc bấy giờ Henry ở trong một ngôi nhà hai tầng tại Detroit. Đó là một ngôi nhà mà hai nhà cùng ở chung. Phía sau ngôi nhà này có một khoảng đất trống dùng làm kho chứa than đá và củi. Chính trong cái kho chứa than đá đó, Henry đã trải qua nửa  năm nghiên cứu thí nghiệm, để vào lúc 2 giờ sáng tháng 6 năm 1896, ông đã vặn  bu-lông cuối cùng vào cỗ xe hơi đầu tiên của mình.

Chiếc xe hơi đầu tiên của Henry Ford là một chiếc xe được gắn động cơ bốn thì, có hai tốc độ: một tốc độ 10 dặm Anh (khoảng 16 km) và 20 dặm Anh (khoảng 32 km), không có phanh, cân nặng khoảng 500 Pound (khoảng 227 kg), có thể xem là một chiếc xe nhẹ nhàng tiện lợi nhất trong thời bấy giờ. Một điều tương đối bất tiện là không có bộ phận chạy lùi, nên chiếc xe khi cần trở đầu phải nhờ hai hoặc ba người khiêng nó lên quay về một hướng khác.

Theo một số ý kiến của bạn bè và một số nhà tài trợ, ngày 5 tháng 8 năm 1899, Henry 36 tuổi đã xin từ chức ở công ty phát điện của Edison, để cùng một số người tâm huyết như ông thị trưởng thành phố và một thương gia ngành gỗ cùng hợp tác, thành lập công ty xe hơi Detroit (Detroit Automobile Company). Henry được mời làm tổng công trình sư. Nhờ thế lực chính trị của ông thị trưởng, bưu cục Detroit đã sử dụng bốn chiếc xe hơi của công ty xe hơi Detroit để chở bưu kiện. Đó là số hàng bán ra đầu tiên của công ty. Nhưng, do chưa có kinh nghiệm chế tạo thương phẩm. Trong quá trình chế tạo còn rất nhiều sai sót như những phụ tùng bán lẻ ra ngoài không hợp kích thước, việc giao hàng chậm  trễ. Ngoài ra, do sử dụng những người công nhân trước đây chuyên làm xe ngựa  nên phẩm chất của những chiếc xe hơi rất thấp kém, việc làm còn thô sơ tuỳ  tiện, do vậy, đến ngày giao xe mà vẫn chưa có hàng để giao. Công ty xe hơi Detroit cũng do giữa những người hợp tác có sự bất hoà, nên qua năm sau thì  đóng cửa.

Mùa hè năm 1902, Henry Ford tái thành lập công ty. Năm 1903, công ty của họ đổi tên là Công ty xe hơi Ford. Ford trông nom việc chế tạo còn người hợp tác kia thì lo tiêu thụ xe thành phẩm. Ford đã thuê mười hai người giàu kinh nghiệm đóng xe ngựa vận tải hàng. Việc thiết kế xe hơi do đích thân Ford tiến hành, đồng thời, áp dụng phương thức sản xuất với một số lượng lớn. Sau khi hoàn thành việc thử nghiệm động cơ xe hơi, cũng như việc lắp đặt động cơ và  những hệ thống lắp đặt động cơ và những hệ thống làm việc khác, công ty xe  hơi Ford đã sản xuất được chiếc xe theo kiểu A đầu tiên.

Từ thu đông năm 1903 đến mùa xuân năm 1904, công ty xe hơi Ford tổng cộng đã sản xuất được 650 chiếc xe kiểu A. Trong vòng sáu tháng đã bán ra được 1700 chiếc xe, đồng thời, tăng cường phục vụ hậu mãi. Hơn nữa, ông còn dự định thuê một khu đất trống để xây dựng một công xưởng có quy mô lớn gấp mười lần công xưởng hiện tại. Tại công xưởng này, ông sẽ sản xuất các loại xe bắt đầu từ loại A, theo thứ tự vần tiếng Anh để lần lượt cho ra đời các kiểu xe A, B, C, F, v.v. Trước sau như một, Henry luôn luôn kiên trì sản xuất loại xe đại  chúng giá rẻ, có tính năng ưu việt.

Kể từ năm 1903, khi Henry bắt đầu sản xuất loại xe kiểu A, trước sau  trong vòng năm năm, ông đã theo thứ tự của chữ cái A, B, C, F, K, N, R, S, và  đã sản xuất tổng cộng tám kiểu xe hơi. Trải qua những sự cải tiến không ngừng, cũng như sự thiết kế ngày càng đa dạng hoá. Máy xe từ hai xilanh tăng lên thành  sáu xilanh; động lực của máy xe từ tám sức ngựa tăng lên thành 40 sức ngựa; ngoại hình từ chỗ xe có mui phát triển lên thành không mui. Có thể nói trước khi Henry đặt một tụ bài lớn nhất trong cuộc đời của mình, đã âm thầm mò mẫm suất năm năm.

Việc tổ chức công ty xe hơi lần đầu bị thất bại đã khiến cho Henry ý thức được một cách tỉnh táo: Muốn đạt được thành công, thì phải bắt tay cả từ bên  trong lẫn bên ngoài. Đồng thời, phải phân biệt giữa người sở hữu xí nghiệp là người quản lý.

Do vậy, khi Henry thành lập công ty xe hơi Ford lần thứ ba, thì việc trước tiên được ông quan tâm là việc chọn lựa nhân tài. Ông đã sáng suốt mời James Joseph Couzens là một chuyên gia về mặt quản lý giữ vai trò giám đốc của công ty. Riêng kế hoạch tiêu thụ xe kiểu T do Henry và Couzens đích thân phụ trách. Tháng 3 năm 1908, ông đã tiến hành theo phương thức đặt hàng bí mật. Henry đã bí mật cho Italia danh mục thương phẩm xe hơi kiểu T mà không cho ai biết, ảnh chụp xe hơi kiểu T cũng được bí mật gửi qua đường bưu điện tới các đại lý phân phối xe hơi của công ty Ford. Tiến hành kiểu tiêu thụ này là do một người cùng tuổi với Ford là Richard, lúc bấy giờ vẫn chưa được phổ cập, kể cả trong ngành tiêu thụ xe hơi. Do vậy, khi những nhà buôn xe hơi nhận được phong bì gửi theo bưu điện tới thì cảm thấy không hiểu ra sao. Chờ khi họ mở phong bì ra xem mục lục thương phẩm, sách thuyết minh và giá cả ở bên trong thì mới hiểu  ra, và đều tán thành cách suy nghĩ kỳ diệu hiếm có đó.

Trong quảng cáo xe hơi kiểu T là loại xe nằm giữa kiểu xe có mui và kiểu xe mui trần, so với hai kiểu xe R và S chưa tiêu thụ hết thì nó mới mẻ hơn. Nó có mấy đặc trưng nổi bật là dùng loại hợp kim vừa nhẹ vừa rắn chắc để chế tạo.dj Hai là bốn xilanh của nó đều có phần đỡ bằng thép có hình quả trám nhỏ, khiến cho thể tích của động cơ nhỏ hơn. Thứ ba là hộp số đều nằm kín trong xe, chứ không để lộ ra ngoài như trước. Thứ tư là tay lái được đặt ở bên trái, khác hơn  các loại xe hơi sản xuất ở Châu Âu tay lái được đặt ở bên phải.

Một điều làm cho mọi người khó tin là, giá bán cho các nhà tiêu thụ của Ford chỉ có 825 USD. Sau khi biết được sự phấn khởi của các nhà tiêu thụ xe hơi cho mình, Ford hoàn toàn không còn do dự, quyết định tiến hành sản xuất và định rõ ngày giờ đưa loại xe mới này ra thị trường. Ngày 1 tháng 10 năm 1908, Henry Ford mở màn một chiến dịch tuyên truyền cho loại xe mới. Việc tuyên  truyền của ông rất đột ngột, làm cho mọi người đều giật mình, và đó cũng là một cách tuyên truyền chưa từng có trong lịch sử. Ngoài việc báo chí đăng tải những  bài giới thiệu, Ford còn dùng cách gửi tài liệu tuyên truyền quảng cáo theo đường bưu điện đến các khách hàng với một quy mô chưa từng có, làm cho người nghĩ ra cách tuyên truyền này là Richard cũng phải thán phục, chịu thua. Nhưng, Henry vẫn chưa hài lòng về hiệu quả quảng cáo theo đường bưu điện, ông còn thông qua phương thức dùng điện tín và điện thoại, trực tiếp thông tin tới những người tiêu thụ.

Chỉ trong thời gian một năm, xe hơi kiểu T đã tiêu thụ được đến 6000 chiếc, lập một kỷ lục chưa từng có trong lịch sử, thu được lãi ròng so với tổng số tiền tiêu thụ trong vòng 5 năm còn cao hơn 2 triệu USD. Đó là một trang huy hoàng được Henry Ford viết trong cuộc sống của mình. Ngày 31 tháng 3 năm 1909, cũng tức là thời gian sáu tháng sau khi tiêu thụ loại xe kiểu T, Henry Ford lại xuống lệnh thay đổi màu sắc và ngoại hình của loại xe này. Ông căn cứ vào mục đích sử dụng để sơn xe thành ba màu khác nhau: màu đỏ đầy sức sống để  dành cho những người du lịch, màu xám giản dị để cho những khách hàng dùng xe làm chân và màu xanh lá cây sang trọng để dùng cho những người giàu có. Ở trước đầu xe nơi thùng nước toả nhiệt, ông cho gắn một thương hiệu “FORD”. Thương hiệu này được thiết kế rất bắt mắt, đứng cách xa nửa dặm Anh (khoảng  800 mét) cũng có thể nhìn thấy rõ ràng. Đồng thời, nó cũng có hiệu quả về mặt mỹ quan, khiến khách hàng rất ưa thích. Thế là hàng nghìn đơn đặt hàng được gửi tới, làm cho Henry phải nghĩ tới việc ứng phó với yêu cầu mới. Rõ ràng là chỉ có nâng cao năng lực sản xuất thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Trong quá trình sản xuất xe hơi, Henry cho rằng nếu muốn tiến hành sản xuất lớn, thì việc đầu tiên là phải thực hiện việc sản xuất xe hơi tiêu chuẩn hoá, quy cách hoá. Tức là cần phải làm cho tất cả các linh kiện có tính năng thông dụng, tức sản phẩm bất kỳ về mặt ngoại hình, lớn nhỏ, màu sắc, đều phải hoàn toàn giống nhau. Như vậy, khi sản xuất trên dây chuyền chuyển động thì mới khỏi mất thời giờ do linh kiện lớn nhỏ khác nhau gây ra, như vậy cung giúp cho khách hàng đễ bảo dưỡng chiếc xe hơn.

Trên cơ sở tiêu chuẩn hoá sản phẩm, loại xe kiểu T của Henry Ford đã cho sản xuất theo phương thức dây chuyền, để có thể thực hiện được mục tiêu sản xuất lớn. Do vậy, ông đã mời một thiết kế sư được mọi người xem là “thiên tài cơ giới hoá” tên gọi Frandes. Người này là đại công thần trong việc đưa nước Mỹ tiến vào chế độ sản xuất đại quy mô. Kế đó, Henry lại mua một khu đất rộng 60 mẫu Anh tại công viên Highland để xây dựng công xưởng. Ông mời một kiến trúc sư 37 tuổi để đảm nhiệm việc thiết kế. Trong công xưởng mới này được xây dựng một hệ thống sản xuất dây chuyền theo kiểu nghiêng từ trên cao xuống... Như vậy, thành phẩm sẽ từ trên cao tự động lăn xuống, người thợ không cần động tới”. Qua băng chuyền liên tục chuyển động đưa các linh kiện tới tay người thợ, giúp cho hiệu suất lao động tăng lên rất cao. Sau đó, cách sản xuất này lại được phát triển theo hệ thống dây chuyền nối tiếp. Tới giai đoạn này, các khâu muốn chậm hay nhanh đều có thể do băng chuyền khống chế. Như vậy, hệ thống lắp ráp xe hơi theo kiểu dây chuyền đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện. Việc lắp  ráp một chiếc xe hơi từ 12 tiếng 28 phút, rút xuống còn 9 phút.

Phương thức sản xuất đó có một tác dụng rất to lớn đối với hiệu suất lao động cũng như việc hạ giá thành. Năm 1912, tức năm cuối cùng dùng phương thức sản xuất cũ, thì công ty xe hơi Ford đã sản xuất 32.388 chiếc, qua năm sau, khi áp dụng phương thức sản xuất dây chuyền, thì trong năm đó đã sản xuất  được 109.088 chiếc. Đến năm 1916, sau khi tiến lên một bước hoàn thiện hệ thống sản xuất dây chuyền, số lượng sản xuất tăng lên đến 585.388 chiếc.

Loại  xe hơi kiểu T ra đời vào năm 1908, đến năm 1927 thì không sản xuất nữa. Trong  vòng 19 năm đó, tổng cộng đã sản xuất được 150.007.033 chiếc, bình quân mỗi  năm sản xuất được 800.000 chiếc, đạt đến kỷ lục chưa từng có. Trong thời gian cao điểm, loại xe hơi kiểu T này chiếm tới 68% thị  trường trên toàn thế giới.

Cùng lúc đó, Henry vẫn trung thành với nguyên tắc nghề nghiệp của mình, là kiên trì sản xuất loại xe hơi đại chúng bán ra với giá thấp, nhưng tính năng lại ưu việt. Henry là người có tư tưởng kinh doanh độc đáo. Ông cho rằng, lãng phí và tham lợi nhuận là hai điều làm cản trở quyền lợi của người tiêu thụ. Lãng phí tức là trong quá trình sản xuất lãng phí thời gian nhiều và hao tổn sức lao động nhiều. Còn tham lợi nhuận là người có tầm nhìn quá ngắn. Ông cho  rằng: cần phải tiêu hao sức người và sức của ít nhất trong quá trình sản xuất, đồng thời, phải bán ra với số lợi nhuận thấp nhất, để đạt được số lượng tiêu thụ gia tăng, tức nguyên tắc “lãi ít nhưng tiêu thụ nhiều”. Do vậy, kể từ năm 1908 khi loại xe hơi kiểu T ra đời thì số lượng tiêu thụ ngày càng cao, trong khi giá bán ngày càng thấp. Từ giá 825 USD lúc ban đầu, đã hạ dần xuống còn 550 USD vào năm 1913, và đến năm 1916 thì giá bán chỉ còn 360 USD. Mục tiêu  cuối cùng của công ty Ford là giữ giá thành của xe hơi kiểu T ở mức thấp nhất:  260 USD. Đến năm 1920 thì công ty Ford đã dẫn đầu ngành sản xuất xe hơi. Chiến lược “lãi ít tiêu thụ nhiều” của Henry Ford cũng như phương thức sản xuất dây chuyền, tức hệ thống Ford, đã tạo nên một cuộc cách mạng công  nghiệp mang tính chất sản xuất lớn, cũng như tính chất tiến bộ trong lịch sử, có  sự gợi mở nhất định về mặt tư tưởng cho các nhà kinh doanh về sau. Chẳng những nó đã đặt được nền tảng cho sản xuất công nghiệp phát triển cao độ ngày  nay, mà còn là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy việc xây dựng công nghiệp được tăng nhanh hơn. Ngày nay, trong tâm khảm của người Mỹ, Henry Ford có một vinh dự rất lớn, được gọi là “ông vua xe hơi”, là “người anh  hùng”.

Trong khi Henry Ford và nhân viên quản lý của công ty đều tự hào trước sự thành công to lớn của loại xe Ford kiểu T, thì không ngờ hệ thống dây chuyền của công ty lại tạo ra một ảnh hưởng có tính chất phá hoại đối với sức lao động sản xuất. Do công nhân không quen với cách làm việc dây chuyền, nên lao động của họ trở nên căng thẳng. Cho dù lương ngày hai đồng của công ty xe hơi Ford, nếu so với các công ty xe hơi khác ở lân cận đã cao hơn 20%, nhưng vẫn có không ít công nhân bất mãn, tự ý xin nghỉ việc để tới những công ty đối thủ với  công ty Ford tìm việc làm. Năm 1913, số công nhân dự phòng để thay thế của công ty Forđ bị giảm đến 38%. Do vậy, ngày 7 tháng 1 năm 1917, tại một cuộc họp khẩn cấp do Henry triệu tập, ông đã tuyên bố. “Bắt đầu từ ngày mai, tiền lương ngày của công nhân công ty xe hơi Ford là 5 USD/ngày!”. Henry Ford lại viết thêm một trang sáng chói trong lịch sử chế độ tiền lương của nước Mỹ. Hành động trên đã mang tới cho công ty Ford nhiều sự bình phẩm tốt đẹp. Đó là một cuộc đại cách mạng trong lịch sử lao công của nước Mỹ. Sóng gió của cuộc cách mạng này sẽ mang tới một ảnh hưởng lớn đối với Châu Âu. Thậm chí cho tới ngày nay, quyết định trên của công ty Ford vẫn còn được xem là dấu hiệu nhân ái, quan tâm tới đời sống công nhân.
Henry Ford còn khẳng định một cách đầy đủ giá trị của lao động, đi đầu trong việc thực thi chế độ đãi ngộ với công nhân viên chức tại công ty xe hơi  Ford: ông đề xướng chính sách phúc lợi cho công nhân qua chế độ “ngày làm việc sáu tiếng”, “tuần làm việc năm ngày”. Hàng loạt chính sách đó chẳng những giúp ông thu gom được một đạo quân lao động tinh nhuệ, mà còn cải thiện rất lớn mối quan hệ giữa chủ và thợ. Henry hiểu một cách sâu sắc về tính  chất quan trọng của việc quan tâm đến đời sống của công nhân viên chức. Ông mong muốn rằng công ty Ford cần phải là nơi tiêu biểu cho mức sống của nhân dân trong toàn quốc, thậm chí, phải là mục tiêu mà các quốc gia khác cùng theo  đuổi.

Sau Đại chiến thế giới hai, kinh tế thế giới có nhiều biến động. Dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 30 vẫn còn đeo đẳng không ít các doanh nhân, doanh nghiệp. Ford cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Loại xe hơi  Ford kiểu T vừa rẻ vừa đẹp bước vào một hoàn cảnh khó khăn, Sau năm 1929,  loại xe nói trên chỉ chiếm 31,3% trên thị trường tiêu thụ xe hơi của Mỹ; đến năm 1940, con số này lại giảm xuống còn 18,9%, quả là một tình trạng bi thảm. Đứng trước đối thủ đang vươn lên là “công ty xe hơi thông dụng” (General Motor) Henry Ford ở tuổi 80, buộc phải triệu hồi đứa cháu trai đang giữ chức vụ trong ngành hải quân là Henry Ford đời thứ hai, giao trách nhiệm kế thừa sự  nghiệp của tổ tiên với tư cách là phó tổng tài của công ty xe hơi Ford.

Đứng trước một “công ty sắp chết” do mỗi tháng bị lỗ đến 90 triệu USD, Henry Ford đời thứ hai hiểu được một cách sâu sắc, điều trước tiên là cần phải tiến hành một sự cải cách triệt để. Đầu tiên là cần phải tìm cho được những người có kinh nghiệm quản lý toàn diện. Henry đã tìm được Hernest Bridges nguyên là phó tổng giám đốc của công ty General Motor. Do Henry đời thứ hai  có thành ý, đích thân đến gặp Bridges nhiều lần khiến cho ông cảm động và nhận lời mời. Kế đó, Henry đời thứ hai lại tiếp tục thu dụng mười người nguyên là viên chức quản lý có tương quan tới chế độ và quy tắc của ngành không quân, trong đó có Robert S.McNamara sau này giữ chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Mỹ, và Charles Bates Thornton là người sau này giữ chức giám đốc Ngân hàng thế giới, vv. Giữa năm 1946, số người của Bridges sau khi nhận nhiệm vụ, thì ngay trong năm đó công ty đã chuyển thành lời. Qua năm thứ hai, sau khi trừ  các khoản thuế, công ty thu nhập được 66.367.000 USD tiền lải ròng. Sau đó lợi  nhuận cứ mỗi năm càng cao. Đến 1950, lợi nhuận cao tới 2,58 tỷ USD. Mặc dù  rơi vào một lần khủng hoảng nữa, nhưng Ford vẫn tiếp tục vượt qua và khẳng  định ưu thế của mình trong làng xe hơi thế giới. Tháng 3 năm 1980, ở tuổi 63,  Ford đời thứ hai đã mạnh dạn quyết định đi theo trào lưu của lịch sử, tuyên bố từ chức chủ tịch đồng quản trị công ty xe hơi Ford, và trao đại quyền kinh doanh nghiệp vụ do ông đã giữ suốt 35 năm lại cho một chuyên gia quản lý ở ngoài gia  tộc Ford là Philip Kaldwel, để ông này đứng ra tổ chức ban cố vấn và áp dụng tập đoàn chuyên gia, một thể chế lãnh đạo mới nhất để lãnh đạo công ty xe hơi  Ford. Hành động này là một tuyên cáo “kết thúc 77 năm của vương triều Ford”, mở đầu cho viền trao đại quyền của xí nghiệp gia tộc cho người ngoài gia tộc  trong giới xí nghiệp của Mỹ. Điều này có thể nói gia tộc Ford một lần nữa lại có sự cống hiến mang tính chất khai sáng cho việc phát triển của các xí nghiệp ở  Mỹ. Năm 1981, công ty xe hơi Ford một lần nữa lại bước vào thời kỳ thịnh vượng. Năm 1982, công ty đã sản xuất và tiêu thụ được 4.328 nghìn chiếc xe, chỉ kém hơn Công ty General Motor. Đến năm 1994 thì số lượng tiêu thụ xe đã  vượt hẳn lên, doanh thu lên tới hơn 128 tỷ USD, đứng hàng thứ hai trong số các công ty công nghiệp lớn nhất ở Mỹ và trong thế giới tư bản.

Ngày nay, nơi chào đời của Henry Ford - Dearborn đã trở thành một thị trấn phồn vinh rực rõ. Một điều đặc biệt hơn là tai nơi đây đều tràn ngập màu  sắc Ford, và đã trở thành một “Thị trấn Ford” đúng với cái tên của nó. Henry Ford phong cách độc đáo của mình vĩnh viễn sẽ được người đời hoài niệm và  tán thưởng.

Danh Ngôn

Quảng cáo

Chuye giay dep tre em Giày dép trẻ em Giay dep tre em Sale domain

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 ĐỨC VINH