quan su

Hiển thị các bài đăng có nhãn quan su. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quan su. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) và sự hồi sinh của dân tộc Việt

Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Đất Mê Linh xưa là đất bản bộ của vua Hùng. Vùng đất này kéo dài dọc hai bờ sông Hồng từ Việt Trì (Phú Thọ) đến Hà Nội và trải rộng ra vùng núi Ba Vì (Hà Tây), lan rộng sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với địa bàn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây hiện nay.

            Truyền thuyết kể lại rằng, cha mẹ Hai Bà Trưng làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải. Xưa kia nuôi tằm, tổ kén tốt gọi là kén chắc, tổ kén kém hơn gọi là kén nhì; trứng ngài tốt gọi là trưng chắc, trứng ngài kém hơn gọi là trứng nhì. Do đó, tên hai bà vốn rất giản dị là Trứng Chắc Trứng Nhì, phiên theo tiếng Hán gọi là Trưng Trắc Trưng Nhị.

            Cha mất sớm, mẹ hai bà là Man Thiện (tương truyền là cháu ngoại vua Hùng) đảm đương việc nuôi dạy con cái. Bà hướng dẫn các con trồng dâu, nuôi tằm và luyện tập võ nghệ. Lớn lên trong cảnh loạn lạc, Hai Bà Trưng đã sớm trưởng thành, đặc biệt là Trưng Trắc, Bà tỏ ra là người “rất can đảm, dũng lược”. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách[1]cũng là con Lạc tướng ở huyện Chu Diên. Sách ''Đại Việt sử kí toàn thư” có xác nhận sự kiện này: “Thi sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau”[2]. Việc hai hai gia đình kết thông gia làm cho thanh thế của họ càng lên cao.
            Bấy giờ, nhà Đông Hán đang cai trị nước ta. Chúng chia nước ta thành ba quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam), Cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) và Nhật Nam (Quảng Bình trở vào đến Quảng Nam) để dễ bề cai trị và thực hiện âm mưu đồng hoá. Nhà Hán bắt nhân dân phải cống nộp đủ mọi thứ của ngon vật lạ, như: ngà voi, sừng tê, đồi mồi, ngọc châu, vàng bạc, và bóc lột tô thuế nặng nề làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ.
            Năm 34, Tô Định được cử sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Hắn tham lam, tàn ác, thường xuyên giết hại vô cớ nhiều dân thường, làm cho đời sống nhân dân ta ngày càng cùng cực.
            Trước cảnh nước mất, nhà tan lại được chứng kiến sự tàn ác của Thái thú Tô Định, Thi Sách và Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dạy chống lại nhà Đông Hán. Việc chưa thành thì bị bại lộ, Tô Định đã giết chết Thi Sách[3]trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, hòng làm nhụt ý chí của Trưng Trắc. Nhưng hành động đó của Tô Định chỉ làm thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù giặc trong lòng Trưng Trắc. Bà cùng với em gái của mình Trưng Nhị đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, chống nhà Đông Hán.
            Mục đích hay nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa này đã được ghi lại rất rõ trong “Thiên Nam ngữ lục”, (thế kỉ XVIII), mà sử vẫn thường gọi là ''Lời thề Trưng Trắc'':
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin lấy lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻ vẹn sở công lênh này
            Khi ra trận, dù còn đang mang tang chồng, Bà vẫn ăn vận rất đẹp, tướng sĩ thấy vậy hôi, Bà khẳng khái đáp lại: “Việc binh quyền, nếu giữ lễ làm dung nhan xấu xí, thì tự làm giảm nhuệ khí, nên ta mặc đẹp để cho thế quân hùng tráng; vả lại lũ kia thấy thế, tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu, thì ta dễ có phần thắng”[4]. Câu trả lời đã khẳng định thêm bản lĩnh kiên cường quyết tâm tiêu diệt giặc của Trưng Trắc, đồng thời, nó cũng thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, đặt lợi ích nhà lên trên hết của Bà Trưng.
            Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng phát động cuộc khởi nghĩa ở khu vực cửa sông Hát (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây). Cửa sông Hát là chỗ gặp nhau của hai con sông lớn (sông Hồng và sông Đáy. Đây là 11 đầu mối giao thông thuỷ quan trọng nhất nước ta thời bấy giờ. Hơn nữa, sông Hát lại có vị trí rất thuận lợi để xây dựng căn cứ khởi nghĩa:
“Hát Môn có thể dụng binh.
Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”.
(Thiên Nam ngữ lục)
            Hai Bà Trưng đã khai thác triệt để thuận lợi của thiên nhiên để xây dựng căn cứ khởi nghĩa, chuẩn bị lực lượng và phát động khởi nghĩa.
            Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Sách Hậu Hán thư còn chép lại: “Những người Man, người Lý (dân tộc phương Nam – TG chú) ở bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng”[5]. Rất nhiều phụ nữ đã tham gia vào nhiều cuộc khởi nghĩa, trở thành những tướng soái của Hai Bà, như: Nữ tướng Lê Chân (Hải Phòng), Vũ Thục Nương (Thái Bình), Thiều Hoa, Diệu Tiên, Man Thiện, Bát Nàn, Đào Kỳ… Hai Bà còn liên lạc và phối hợp với các cuộc đấu tranh vũ trang ở các địa phương khác đang hoạt động độc lập. Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân lớn mạnh nhanh chóng.
            Từ cửa sông Hát, nghĩa quân theo dọc sông Hồng đánh chiếm Đô úy trị (thuộc Hạ lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc), rồi đánh chiếm lại thành Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội). Từ Cổ Loa, nghĩa quân mở cuộc tấn công trực tiếp vào thành Luy lâu (nay thuộc xã Lũng Khê, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - sào huyệt của chính quyền đô hộ. ''Bà Trắc rất hùng dũng, đi đến đâu như gió lướt đến đấy[6]. Trước sức tấn công mạnh mẽ của nghĩa quân, chính quyền địch tan rã nhanh chóng. Thái thú Tô Định phải bỏ chạy khỏi thành, bỏ cả ấn tín, cắt tóc, cạo râu mới trốn về được Nam Hải.
            Sau khi chiếm được thành Luy Lâu, Hai Bà chia quân đi truy quét bọn quan quân nhà Hán ở các huyện thành. Chỉ sau một thời gian ngắn, nghĩa quân đã làm chủ được 65 huyện thành trong cả nước. Nền độc lập dân tộc được khôi phục sau hơn 150 năm bị nô lệ.
            Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toát đã diễn tả lại sự kiện này một cách sinh động:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.
Đô kì đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta…”


            Sau thắng lợi, nhân dân suy tôn Trưng Trắc lên làm vua. Bà lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh (nay thuộc khu vực Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Trưng Vương đã xá thuế hai năm liền cho nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đồng thời, Bà cũng ban thưởng và phong chức tước cho những người có công trong cuộc khởi nghĩa đất nước tạm yên ổn.
            Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và công cuộc xây dựng nền độc lập tự chủ của đất nước ta trong một thời gian đã chứng tỏ sự trỗi dậy ý thức tự chủ của dân tộc. Nó phủ định hiên ngang cái tư tưởng bành trướng bá quyền và chủ nghĩa Đại Hán của phương Bắc.
            Có thể nói, đây là cuộc nổi dậy đầu tiên có qui mô lớn kể từ đầu thời Bắc thuộc đến thời điểm này. Cuộc khỏi nghĩa vừa mang tích chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Một mặt, nó quy tụ về cửa sông Hát, về khu vực quận Giao Chỉ theo sự chỉ đạo thống nhất của Hai Bà Trưng. Mặt khác, nó cũng toả rộng ra khắp các vùng trong cả nước và lôi kéo được cả các bộ tộc Việt ở miền Nam Trung Quốc tham gia. Cuộc khởi nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc, thể hiện tài trí tuyệt vời của Hai Bà Trưng.
            Nhà sử học Lê Văn Hưu đời Trần có nhận xét: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được”[7].
            Sau này, tác giả Ngô Sỹ Liên lại một lần nữa khẳng định khí phách của Hai Bà Trưng: “Họ Trưng giận Thái Thú nhà Hán bạo ngược, liền vung tay hô một tiếng mà khiến cho quốc thống của nước nhà có cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng đâu phải chỉ khi sống thì dựng nước xưng vương, mà còn cả ở khi chết còn có thể ngăn chặn tai họa. Phàm gặp những tai ương hạn lụt, cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả đến Trưng Nhị cũng vậy. Ấy là vì đàn bà mà có đức hạnh của kẻ sĩ, cho nên, khí hùng dũng ở trong khoảng trời đất chẳng vì thân đã chết mà kém đi”[8].
            Về phía nhà Hán, nghe tin thái thú Tô Định để mất Giao Chỉ, vua Hán đã cử ngay Mã Viện, một viên tướng khét tiếng là ác bá sang đàn áp cuộc khởi nghĩa, hòng chiếm lại Giao Chỉ. Lúc này, Mã Viện đã 58 tuổi, là một lão tướng có nhiều chiến công và kinh nghiệm đàn áp phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc Tạng - Miến và nông dân ở An Huy (Trung Quốc). Cùng với Mã Viện còn có Phiêu Kỵ tướng quân Đoàn Chí được phong làm Lâu Thuyền tướng quân chỉ huy đạo binh thuyền sang Giao Chỉ, Lưu Long vốn làm thái thú Nam Quận (Hồ Bắc), được phong làm Trung Lam tướng quân tước hầu làm phó tướng cho Mã Viện, Bình Lạc Hầu Hàn Vũ.
            Mùa xuân năm 42, Mã Viện dẫn 2 vạn binh và 2.000 thuyền xe, chia làm hai đạo thuỷ, bộ tiến đánh nước ta. Đạo quân bộ do Mã Viện trực tiếp chỉ huy vượt qua các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông đến Hợp Phố tiến vào Âu Lạc. Đạo thuỷ quân do Đoàn Chí chỉ huy theo đường biên đến Hợp Phố để hội quân với đạo quân bộ của Mã Viện đã cùng tiến vào Âu Lạc. Đến Hợp Phố, Đoàn Chí chết. Mã Viện thống suất cả 2 đạo thuỷ, bộ, kéo vào Âu Lạc. Từ vùng ven biển nước ta, hai đạo quân thủy bộ ngược sông Bạch Đằng tới Lục Đầu Giang tiến sâu vào Giao Chỉ, đến thẳng Lãng Bạc (Tiên Du, Hà Bắc). Mùa hạ năm 43, quân giặc ráo riết chuẩn bị tiến công quân đội của Hai Bà.
            Sau một thời gian chờ đợi, chưa thấy Mã Viện tiến quân, Bà Trưng chủ động cử Thánh Thiên đưa quân lên Hợp Phố giữ mạn Bắc. Hai Bà cùng Lê Chân đưa quân lên trấn giữ phía Nam. Thế giặc rất lớn, đạo quân ở phía Bắc đã phải rút lui. Mã Viện thúc quân xuống phía Nam, gặp quân Hai Bà ở Lãng Bạc (nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Tại đây đã diễn ra các trận đánh quyết liệt khiến cho quân Mã Viện lâm vào tình trạng thiếu lương thực tinh thần rệu rã. Nhiều lúc, Mã Viện phải tính đến chuyện rút quân về nước. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, Mã Viện nhanh chóng lấy lại được ưu thế. Quân Hai Bà Trưng ngày càng yếu đi. Hai Bà buộc phải rút quân từ Lãng Bạc về Cổ Loa, rồi về Hạ Lôi. Mã Viễn tiếp tục đưa quân tiến đánh Hạ Lôi, giết hại hàng vạn người không kể già, trẻ, lớn, bé.
            Sau một năm cầm cự, trước sức tấn công mạnh mẽ của Mã Viện, Hai Bà Trưng phải lui về Cấm Khê (nay thuộc Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Tây). Tại đây, nghĩa quân lấy sông Đáy làm hào ngoài, lấy núi Ba Vì hiểm yếu làm chỗ dựa, lại có khu vực Chửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) làm hậu cứ phía sau. Hai Bà Trưng hi vọng căn cứ Cấm Khê sẽ là cơ sở vững chắc để nghĩa quân xây dựng lực lượng đồng thời là bàn đạp để tổ chức phản công khi có thời cơ.
            Nhưng, một lần nữa, trước sức tấn cống mạnh mẽ của Mã Viện, căn cứ Cấm Khê cũng bị phá vỡ. Hai Bà Trưng hi sinh anh dũng. Cuộc khởi nghĩa đến đây thất bại[9].
            Sau khi Hai Bà Trưng chết, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ. Trong đền, những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt đối không có sơn đỏ. Nhân dân địa phương khi vào thờ cũng không ai dám mặc áo đỏ. Tương truyền rằng Hai Bà Trưng đã chết vì binh đao nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu.
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, đất nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Hán.
            Hai Bà Trưng đứng dậy khởi nghĩa tuy chỉ giành lại độc lập cho đất nước trong một thời gian ngắn ngủi 3 năm (40 - 43) nhưng đó chính là bản anh hùng ca bất diệt cho tinh thần yêu nước, yêu độc lập của dân tộc Việt Nam đầu thời Bắc thuộc. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về hai vị nữ anh hùng của dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị. Tác giả Ngô Thời Sỹ trong “Việt sử tiêu án” đã ca ngợi: “Không gì khó thu phục được là nhân tâm, không gì khó nắm giữa được là quốc thế, lại càng khó nữa là một đàn bà mà tập hợp được cả nhân dân trai tráng làm đồng chí… Trưng Vương là đàn bà góa, búi tóc đứng lên, những con trai trong nước đều cúi đầu chịu Bà chỉ huy, các quan to ở năm mươi thành cũng đều nín hơi, không dám kháng cự… Tiếng tăm hùng dũng của Bà chấn động cả Trung Hoa, cơ nghiệp mở mang của Bà dọc ngang trong trời đất, thật là anh hùng”[10].
            Vua Tự Đức (trị vì 1847 - 1883) khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng đã ngự phê: Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!”[11]         
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một biện tượng hết sức độc đáo trong lịch sử dân tộc. Trong điều kiện khó khăn của một đất nước nông nghiệp, hai thiếu nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ đã đứng lên lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành độc lập, mở đầu cho lịch sử dân tộc đi lên. Các sử gia phong kiến sau này cũng ví công lao ấy của Bà như những người phụ nữ anh hùng vĩ đại của Trung Quốc: “Trong sách Bắc sử về đời Hán, Đường, cũng có vua đàn bà, như họ Lã, họ Vũ, nhưng đều là nhờ thế đã làm mẫu hậu rồi, mà nắm lấy quyền nhân chủ, thì dễ dàng lung lạc được trong nước, múa may với đàn trẻ. Đến như Bà Trưng là một đàn bà bình thường mà khởi lên được thì khó lắm…. Ông vua bị mất nước, hoặc là bị bắt, hoặc là đầu hàng; con gái ở cảnh nhà tan, hoặc phải bỏ đi, hoặc bị tủi nhục. Bà chị mất nước, bà em cũng tuẫn tiết theo chị, không chịu đầu hàng cũng không chịu để bắt, người chồng ở dưới đất được nhắm mắt, kẻ gian tà trông thấy thế phải cúi đầu. Vua tôi Văn Thúc (tướng Hán) không làm gì nổi. Chết rồi mà tiếng thơm vẫn còn… từ Nữ Oa có việc động trời đến giờ, chỉ có hai chị em Bà Trưng nữa thôi đấy”[12].
            Hai Bà Trưng chính là những người đầu tiên viết nên trang sử vẻ vang chống Bắc thuộc của dân tộc, đã đem đến sự hồi sinh cho tinh thần đấu tranh của dân tộc Việt.

Theo: Bách khoa tri thức

HỒ CHÍ MINH (1890 -1969)

Hồi trẻ có tên là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành. Khi hoạt động ở nước ngoài lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh. Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 trong một gia đình trí thức nghèo, gốc nông dân. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và từng ra làm việc cho triều Nguyễn, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì bị cách chức vì có tinh thần yêu nước thương dân nên ông thường có thái độ chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp. Thân mẫu của Người, cụ bà Hoàng Thị Loan là con gái một nhà Nho làm nghề dạy học nên cũng được học ít nhiều; bà tính tình hiền hậu đảm đang, quen việc đồng áng, dệt vải, hết lòng săn sóc chồng, dạy dỗ các con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh và anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp.

Quê hương của Người (làng Kim Liên, quê nội liền kề với làng Hoàng Trù quê ngoại, đều thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong lịch sử dựng nước của dân tộc đây là một địa phương giàu truyền thống đấu tranh gian khổ, chống các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, hết hạn hán với gió Tây gào rú đến bão táp, lũ lụt trắng đồng. Quê hương Nghệ An của Người (nằm trong vùng Nghệ Tĩnh nói chung) cũng là một vùng đất có truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm xuyên qua chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc. Thừa hưởng những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường gia đình và quê hương, ngay từ lúc còn nhỏ. Người đã sớm bộc lộ lòng yêu nước, thương đồng bào.
Người rất khâm phục cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885-1896); phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1904-1908); cuộc vận động cải cách do Phan Châu Trinh khởi xướng (1905-1908); cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (Hà Bắc) do Hoàng Hoa Thám đứng đầu (1885-1913). Nhưng vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đi trước, với ý chí mãnh liệt và quyết tâm sắt đá, năm 1911, Người quyết định vượt biển sang phương Tây - quê hương của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi có nền khoa học và kỹ thuật phát triển, để thực hiện mục đích ham muốn tột bậc của đời mình là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào.
Vốn có tinh thần yêu nước thương dân nồng nàn, gắn bó sâu sắc với những truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương, gia đình, dân tộc; lại có một vốn văn hoá rất cơ bản của phương Đông và phương Tây, thu nhận được qua sự giáo dục gia đình và nhà trường, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành trước khi xuất dương tìm đường cứu nước đã có thời gian học tại các trường học do chính quyền thực dân Pháp mở tại Vinh, Huế nên có điều kiện chủ động và nhanh chóng hòa nhập vào xã hội phương Tây tìm hiểu thấu đáo và thông cảm sâu sắc với cuộc sống các dân tộc bị áp bức từ châu Âu sang châu Á, từ châu Phi đến châu Mỹ. Cuộc khảo sát dài ngày và phong phú đã giúp cho nhận thức của Người về kẻ thù, về tình nhân loại kết hợp với hữu ái giai cấp, về sức mạnh đoàn kết chiến đấu, v.v… vượt qua phạm vi Quốc gia để vươn tới tầm cao thế giới. Đó là nền tảng để Người (từ năm 1919 có tên là Nguyễn Ái Quốc) nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý của thời đại.
Hoạt động đầu tiên có tiếng vang lớn của Người trên đất Pháp là gửi tới Hội nghị Versailles (Vecxay) của các nước đế quốc mới đánh bại Đức trong chiến tranh thế giới I (1914-1918) bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam (ngày 18 tháng 6 năm 1919). Yêu cầu chính đáng trên không được giải quyết làm cho Người thêm nhận rõ: ''Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”.
Chính vào lúc đó, khi phong trào cách mạng của nhân dân Pháp đang dâng cao dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác-Lênin. Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa với những vấn đề đặc biệt quan trọng về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc; về quyền bình đẳng tự do thật sự giữa các dân tộc; về tình đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước v.v... đã làm cho Người vô cùng phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng (1920). Từ đó, Người tin theo Lênin và tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản). Từ một người yêu nước mãnh liệt, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, và là một trong số những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp (1920).
Từ năm 1921 đến 1930, với những hoạt động phong phú và sáng tạo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc v.v... vừa ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng vừa tham gia các hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản; viết sách, báo, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách hệ thống...  Người đã xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách một chiến sĩ cách mạng Quốc tế và là người sáng lập ra chính đảng kiểu mới ở Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thời kỳ hình thành về cơ bản đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-LÊnin vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết hợp đúng đắn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; Người khẳng định cách mạng Việt Nam từ đây coi chủ nghĩa Mác-Lênin là cẩm nang thần kỳ, là kim chỉ nam định hướng, là Mặt trời soi sáng con đường dân tộc Việt Nam đi tới thắng lợi, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ này, Người đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa (1921), trực tiếp thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925); ra báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), báo Thanh niên (1925); viết các tác phẩm Con rồng tre (1922); Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); Đường cách mệnh (1927).
Từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3 - 2 - 1930), trong những năm tiếp theo của thập kỷ 30 đến những năm của thập kỷ 40, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động Cách mạng, có thời gian bị bắt và bị đầy trong nhà lao đế quốc Anh ở Hồng Kông (1931 - 1932), Người vẫn theo dõi sát sao phong trào cách mạng trong nước, kịp thời đóng góp với Trung ương Đảng ở trong nước nhiều ý kiến cụ thể để chỉ đạo thực hiện tốt đường lối của Đảng ngày 8 tháng Hai 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người trở về Tổ quốc. Chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Trung ương Đảng điều chỉnh chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc là trên hết, tạm thời gác lại nhiệm vụ cách mạng ruộng đất; thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) vào ngày 19 tháng 5 năm 1941. Bằng tầm cao trí tuệ, với hoạt động đổi mới và sáng tạo Người đã vận dụng thành công học thuyết Mác-Lênin về Vấn đề dân tộc và thuộc địa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng 10 Nga rung chuyển địa cầu (1917) đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng 8 (1945) có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Người khẳng định: “Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam mà cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa.
Trong thời gian chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức để tiến tới Cách mạng tháng Tám, Người đã lược dịch cuốn Lịch sử Đảng cộng sản Bolshevik Liên Xô; biên soạn một số tài liệu như Cách đánh du kích, cách huấn luyện cán bộ quân sự, ra báo Việt Nam đọc lập (Tên gọi tắt là Việt Lập). Người cũng đã chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang ở Cao Bằng.
Tháng 8 - 1942, với tên gọi là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam bên đó và lực lượng của Đồng minh vừa qua biên giới, Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch vô cớ bắt giam hơn một năm, giải tới giải lui qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong hoàn cảnh đó, Người đã viết tập thơ chữ Hán Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù), một tác phẩm lịch sử và văn học vô giá, khẳng định tinh thần bất khuất lạc quan cách mạng và ý chí cách mạng tiến công của một nhà yêu nước vĩ đại, của một người cộng sản vĩ đại.
Thất bại trong âm mưu sát hại người chiến sĩ cách mạng kiên cường, chính quyền Tưởng phải trả lại tự do cho Người (tháng Chín 1943). Chưa có điều kiện về nước Người đã tranh thủ thời gian tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Trung Quốc, đồng thời chắp lại liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước. Tháng 7 năm 1944, Người về đến Pắc Pó (Cao Bằng) sau đó về Tân Trào (Tuyên Quang) trực tiếp lãnh đạo cách mạng đưa tới thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Nhưng sau ngày Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945) tình hình nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc, vì giặc đói giặc dốt, giặc ngoại xâm. Theo lời kêu gọi của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu trở lại đời nô lệ” đã vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Với tinh thần Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; Thành công, thành công đại thành công. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng do Hồ chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu (1954). Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ tượng trưng cho lòng dũng cảm, quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong cuộc đấu tranh tự giải phóng giành độc lập tự do của các dân tộc thuộc địa. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi, giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.
Hồ Chí Minh là linh hồn hai cuộc kháng chiến cứu nước của toàn dân tộc, Người đã chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh chính nghĩa của thời đại và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nhằm tạo lên sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh thắng bọn xâm lược. Đó chính là quy luật của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.
Đặc trưng tư tưởng Hồ Chí Minh là kết hợp nhuần nhuyễn triết học phương Đông với triết học phương Tây, nắm vững nền văn hóa dân tộc và tiếp thu một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Hồ Chí Minh trở thành một biểu tượng và một hiện thực của sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải thể chế độ thực dân trên phạm vi toàn thế giới; đồng thời cũng là biểu tượng và hiện thực cho những lý tưởng - khát vọng: độc lập cho mỗi dân tộc; tự do cho mỗi người; hạnh phúc cho nhân dân mỗi nước. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân dân hai miền Nam - Bắc tiếp tục cuộc đấu tranh để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà. Sớm phát hiện đúng đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa[1]; Người đã lãnh đạo khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa, từng bước vững chắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Hồ Chí Minh là người đầu tiên vạch ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và phác thảo mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc[2]. Nêu cao tư tưởng đạo đức; trung với nước, hiếu với dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, Người đã trở thành một mẫu mực đạo đức không riêng cho nhân dân Việt Nam, mà cho cả nhân loại yêu chuộng hòa bình, tiến bộ. Nhà sử học Mỹ J.Stenson đánh giá: "Thế giới đang đứng trước thảm họa tha hóa về vật chất, con người đang bị đẩy vào cuộc sống tiện nghi tối đa xa dần cuộc sống thiên nhiên, xa cuộc sống giữa người với người, không cần sống có đạo đức thì Người không tha hóa về vật chất, không mang tiếng về đời tư...Một số đông người đã tha hóa chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống, nhân loại lại tìm về tấm gương sáng ngời nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp sau[3].
Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đào luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Chiến lược trồng người cùng với việc chăm lo cho một Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước vững mạnh của dân, do dân, vì dân thể hiện khát vọng dân giàu nước mạnh xã hội văn minh của Người.
Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tiếc rằng Người không còn sống đến ngày thắng lợi, nhưng xét về mặt lịch sử, Người là kiến trúc sư của thắng lợi đó Người dành nhiều công sức vun đắp phát triển tình hữu nghị, đoàn kết nhân loại tiến bộ nhằm biến những khát vọng của các dân tộc được làm chủ vận mệnh mình trở thành hiện thực, đồng thời khẳng định được bản sắc dân tộc của mình trong sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân đã tác động và thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới tiến lên phía trước trong quá trình phát triển của nhân loại. Người là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một danh nhân văn hóa[4]. Cống hiến to lớn, nhiều mặt của Người đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tầm nhìn của nhân loại tiến bộ, tư tưởng, đạo đức, tư tưởng văn hóa và nhân văn của Người để lại những dấu ấn không thể phai mờ. Tư tưởng ''Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý của thời đại, ngọn cờ chiến đấu của các dân tộc bị áp bức. Phieng Sisulat (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) khẳng định:
''Không có gì quý hơn độc lập tự do!
Một câu nói giản dị, ngắn gọn đã trở thành một câu danh ngôn mang những âm vang cộng hưởng không chỉ bó hẹp trong đất nước, con người Việt Nam mà còn là lý tưởng đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức bóc lột và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”[5].
Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh trở thành niềm tự hào chung của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Bà Marcela Lombardo - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu triết học chính trị và xã hội Mexico nhận định: ''Hồ Chí Minh đã tham gia và thúc đẩy... sự nghiệp vì hòa bình. Và như một nhà văn hóa, Người đã tham gia vào sự phát triển và truyền bá văn hóa, nhận thức được văn hóa như một kho tàng kiến thức của con người về thiên nhiên, cuộc sống, cũng như để đánh giá về sự tồn tại, mà giá trị của nó có thể tăng cường lòng tin vào tính hoàn thiện không ngừng của con người[6].
Trên mạch suy nghĩ đó đi tới một khẳng định: “… Những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những giấc mơ của mình''[7]. Và dễ hiểu là ở giữa cơn khủng hoảng về chính trị, đạo đức, người ta lại tìm về Hồ Chí Minh vì ''Người đã để lại dấu ấn không thể sai lầm của mình để được tiếp tục theo đuổi trong các đảo lộn nhiều biến động, như Santi Mauroy (Giáo sư sử học Ấn Độ) đã khẳng định''.

Hồ Chí Minh đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng nhân loại, trên con đường vươn tới sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người và của mọi người, đã tìm thấy trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh một giá trị trường tồn. Đúng như ý kiến của nhà văn Úc Allan Asbolt: "Nếu chúng ta muốn đối phó một cách hợp lý và mạnh mẽ với những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội đang gặp phải, chúng ta phải học ở Hồ Chí Minh bằng cách phát triển những phẩm chất đã thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của Người: Kiên nhẫn và vững vàng theo đuổi mục đích và bình tĩnh trong những lúc khó khăn; linh hoạt về tư duy và chính trị khi xây dựng khối đoàn kết xã hội chủ nghĩa; khiêm tốn và gần gũi với nhân dân, nhất là với công nhân và nông dân; có sự đồng cảm để đạt tới sự hòa giải dân tộc, có tinh thần Quốc tế mạnh mẽ; sự sáng tạo và nhạy bén về văn hóa, một sự hiểu biết có phân tích về lịch sử, đặc biệt là về cách thức mà những biến đổi lịch sử đã diễn ra; và phẩm chất mà Hồ Chí Minh có một cách dồi dào - đó là sự lạc quan của ý chí”[8].

NGUYÊN TRÃI (1380 - 1442)

Tên hiệu là Ức Trai, vốn người xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) sau rời về Nhị Khê, châu Thượng Phúc, Lộ Đông Đô (nay thuộc tỉnh Hà Tây); xuất thân từ một gia đình quý tộc. Là con Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, nhà văn xuất sắc thời Trần - Hồ, là cháu ngoại Trần Nguyên Đán, nhà thơ lớn và Tể tướng cuối triều Trần. Nguyễn Trãi là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam với tư cách là nhà văn, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà tư tưởng, nhà sử học và địa lý học... Về hoạt động xã hội, ông đã tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống quân Minh, đồng thời cũng là bậc khai quốc công thần, một lòng đắp xây Vương triều Lê trong buổi ban đầu. Thảm án Lệ Chi Viên oan khiên chu di tam tộc mà Nguyễn Trãi gánh chịu, chính là hệ quả khôn lường của tấm lòng ngay thẳng; của thái độ tận tụy, nói thẳng nói thật, và cuối cùng lịch sử đã chứng minh nỗi oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng ức Trai sáng như sao Khuê - Lê Thánh Tông), được tôn là bậc thi bá (Nguyễn Mộng Tuân); là người viết thư thảo hịch, tài giỏi hơn hết một thời, văn chương gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế (Lê Quý Đôn); là sông Giang sông Hán trong các dòng sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các vì sao (Tô Thế Nghi); viết nên áng hùng văn có khí lực dồi dào... đọc không biết chán (Phạm Đình Hồ); rõ ràng và trong sáng trong khoảng trời đất (Dương Bá Cung)...

Gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, trên cương vị Tuyên phụng đại phu, Hàn lâm thừa chỉ Nguyễn Trãi đã có tập thơ binh vận - luận chiến nổi tiếng: Quân trung từ mệnh tập sử dụng đao bút như một thứ vũ khí lợi hại, góp phần làm suy yếu tinh thần quân địch. Sau chiến thắng năm 1428, Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô đại cáo được coi là áng Thiên cổ hùng văn; viết tiếp Phú Núi Chí Linh Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi nêu bật công tích của Lê Lợi trong sự nghiệp cứu nước. Về sáng tác thơ, các tập thơ của ông hầu như được viết trong thời gian sau chiến tranh. Tập thơ Ức Trai thi tập bằng chữ Hán bao gồm 105 bài nằm trong dòng chảy thơ Đường truyền thống và trong hệ quy chiếu của mỹ học phong kiến. Riêng với Quốc âm thi tập bằng chữ Nôm gồm 254 bài, có thể coi Nguyễn Trãi là người chính thức khởi đầu bằng một tập đại thành thơ quốc âm, mở ra cả một dòng chảy lớn trong nền thơ ca dân tộc. Hơn thế nữa, Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là sự phá cách cách tân, khắc phục khuynh hướng quy phạm, mở rộng cảm quan sáng tác thi ca, đặc biệt trong cách diễn tả Thế giới thiên nhiên và nội tâm con người bằng ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc.
Cũng vào thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Trãi đã được ban họ Vua và tước quan Phục hầu, được giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư, tiếp tục thay Vua soạn thảo nhiều chế, chiếu ban bố trong nước, và các thư biểu bang giao với nhà Minh. Ngoài ra, ông còn biên soạn bộ sách Dư địa chí Luật thư, nêu ý kiến tranh luận về luật hình, âm nhạc, văn hiến dân tộc. Tóm lại, Nguyễn Trãi đã trở thành hiện thân cho bước chuyển thời đại từ Phật giáo Lý – Trần sang Nho giáo; người đặt nền móng tư tưởng – văn học nghệ thuật cho thời đại Nho giáo thịnh trị, đặc biệt trong buổi đầu còn le lói ánh sáng hào quang của tinh thần Phục Hưng và ý nghĩa nhân văn. Đánh giá những đóng góp xuất sắc, đa dạng của Nguyễn Trãi đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và sự phát triển những giá trị nhân văn, nhân loại; năm 1980, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận ông là Danh nhân văn hóa và được kỷ niệm trên toàn thế giới.

VÕ NGUYÊN GIÁP VỊ TƯỚNG LỪNG DANH TRONG LỊCH SỬ

v     Tuổi thơ thanh bần và hiếu học
Tướng Giáp quê ở Làng An Xá, Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình, Ông siNh ngày 25 Tháng 8 năm 1911; thân sinh là cụ Võ Quang Nghiêm, một nhà Nho nghèo, yêu nước, giòng dõi khoa bảng, bất khuất và kiên cường. Chuyện kể rằng: Vào khoảng năm 1946- 1947, ở Huế, thực dân Pháp bắt được cụ chúng tra tấn dã man và giam cầm cụ ở Lao Thừa Phủ. Tên mật thám Pháp mắng cụ: . . . ''Không biết dạy con, để con dám chống lại quân đội Pháp hùng mạnh''. Cụ cười ngạo, vuốt râu trả lời: '' Tôi đẻ con ra, chưa kịp dạy thì con đã bỏ nhà đi làm cách mệnh. Chừ tôi có muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử, coi con tôi có chịu nghe không?”

Câu “chửi chữ” của một nhà Nho thâm thúy và bất khuất, "chửi'' ngay giữa lúc cái sống cái chết của cụ nằm trong tay nó, làm nó tức giận tát cụ gãy cả răng và nhốt cụ vào ''ca sô âm phủ''. Rồi chúng đem thủ tiêu cụ, bí mật chôn cụ lẫn lộn với thi hài của nhiều người khác, sau này gia đình và cơ quan không tìm được hài cốt của cụ nữa.

Lúc còn nhỏ, trước khi cắp sách đến trường làng, ông được cha dạy học chữ ở nhà. Ông lại thông minh và hiếu học. Tuy nhiên vì thà nghèo, ngay từ nhỏ, ông vẫn phải lao động để kiếm sống. Đến năm 13 tuổi, ông được vào Huế theo học ở Trường Quốc học; sau đó ông ra Hà Nội học ở khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp. Ông đỗ bằng Cử nhân luật và kinh tế chính trị học vào loại ưu (1937).
v     Thời niên thiếu
 Khi mới 14 tuổi, ông đã bắt đầu hoạt động cách mạng (1925). Năm 1929, ông tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giữ vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Cuối cùng chúng vẫn phải thả ông ra. Ông hoạt động đấu tranh cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai hồi đó: Tin tức; Nhân dân; Tiếng nói của chúng ta; Lao động; làm biên tập viên cho các báo của Đảng; dạy Sử - Địa ở Trường Tư thục Thăng Long. Năm 1934, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Quang Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của ông. Trong những năm hoạt động bí mật ở Hà Nội, hai ông bà đã từng chung sống ở căn nhà số 46 Phố Nam Ngư. Sau này bà bị chết trong ngục tù của Pháp.
Năm 1936 - 1939, phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương lên cao, ông là một trong những sáng lập viên của Mặt trận và là Chủ tịch ủy ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương Đại hội. Ông cùng ông Trường Chinh là đồng tác giả cuốn sách Vấn đề dân cày trong đó nêu rõ quan điểm: ''Vấn đề then chốt ở Đông Dương là trao ruộng đất cho dân cày”.
Tháng 5 năm 1940, ông cùng với ông Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được sự dìu dắt của Người. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.
Tháng 5 năm 1941, trở về Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông cùng mấy cán bộ cao cấp khác xây dựng cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh.
Năm 1942, ông phụ trách ban ''Xung phong Nam tiến”. Tháng 12-1944, ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng Quân; đến ngày 22-12-1944, tại một khu rừng ở Châu Nguyên Bình, Tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ủy nhiệm ông đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng Quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Và ông được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy. Cuối Tháng 3-1945, ông đưa Đội VNTTGPQ tiến xuống phía Nam, hội quân với Đội Cứu Quốc quân của ông Chu Văn Tấn ở vùng Chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam Giải phóng Quân.
Tháng 8-1945, ông được cử làm ủy viên ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc kỳ làm Tổng chỉ huy các đội Việt Nam Giải phóng Quân và là ủy viên Ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II (1945) cử ông vào Ban chấp hành Trung ương và làm ủy viên Ban Thường vụ của BCHTƯ. Ông tham gia ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, và làm Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ lâm thời. Tháng 1-1946 ông được cử làm Chủ tịch quân sự, ủy viên hội trong Chính phủ liên hiệp và làm phó trưởng đoàn trong phái đoàn Chính phủ VNDCCH đàm phán với Pháp ở Đà Lạt[1].
Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong ông làm Đại tướng đầu tiên của QĐNDVN (sắc lệnh số 110).
Ngày 27-10-1948, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD ra nghị quyết ''lập chế độ chính trị ủy viên, đại diện Đảng trong các đơn vi quân đội từ Trung đoàn trở lên, ông làm Tổng chỉ huy kiêm Tổng chính ủy[2].
Tháng 6-1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ quốc phòng - Tổng tư lệnh, ông giữ chức phó Thủ tướng, Bộ trưởng quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh, Tổng chính ủy, Bí thư Quân ủy Trung ương. Ông liên tục đảm nhiệm những chức vụ trên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975).
Về Đảng, ông liên tục được bầu làm ủy viên Trung ương các khoá II (1951) đến VI (20-12-1986), làm ủy viên Bộ chính trị các khóa II đến IV (1976). Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I (1946) đến IV (1986).
Cho đến khi ông thôi giữ chức Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Bộ quốc phòng (1980) rút khỏi Bộ chính trị, (1982) ông lại được cử làm Chủ tịch ủy ban sinh đẻ có kế hoạch (cuối 1983). Cuối năm 1993, ông được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Thôi tham gia chính sự, ông chuyển sang làm một số công việc quan trọng có tính cơ bản lâu dài khác: làm công tác tổng kết chiến tranh, xây dựng lý luận khoa học quân sự, tham gia các hoạt động khoa học của nhiều ngành, dự nhiều cuộc hội thảo khoa học và viết sách. . . Hiện nay ông vẫn tiếp tục làm việc.
Ông đã được nhận: một Huân chương Sao vàng, hai Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng I, một Huân chương chiến thắng hạng I của Nhà nước tặng.
v     Những giây phút quyết định của một sự nghiệp làm tướng
Ông chuyển sang hoạt động quân sự theo sự chọn lựa và phân công của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã từng nói: ''Việc quân sự thì giao cho chú Văn”. Là một thành viên trong Bộ chính trị ĐCSĐD (nay là ĐCSVN) ông là người trực tiếp tham gia hoạch định những quyết định lớn của Đảng và Nhà nước về đường lối cách mạng qua từng giai đoạn của cuộc kháng chiến. Và ông cũng là người xây dựng đường lối quân sự, chiến lược quân sự, đề ra những chủ trương lớn về tác chiến để đưa ra tập thể lãnh đạo quyết định; sau đó chính ông là người tổ chức việc thực hiện cụ thể trong toàn quân và toàn dân. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, phát động chiến tranh giải phóng dân tộc toàn dân toàn diện và trường kỳ, tổ chức lực lượng vũ trang 3 thứ quân làm nòng cốt cho đấu tranh vũ trang của quần chúng. Chiến tranh nhân dân thần thánh phát triển đến một đỉnh cao ở Việt Nam đã đánh bại chiến tranh xâm lược của hai ''đế quốc to” giàu mạnh hơn Việt Nam gấp nhiều lần. Trong cuộc chiến tranh này, chiến thuật du kích đã được ông nâng lên tầm vóc một chiến lược thực sự hữu hiệu, và sự kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy được phát triển đạt đến một trình độ cao. ''Sự kết hợp này, xưa nay chưa từng có”[3].
Ông đã chủ động tổ chức các binh đoàn chủ lực, thường là ''Đi trước một bước"; Đại đoàn 308 được thành lập ngày 28-8-1949; đại đoàn 304 Tháng 3- 1950; kế đó là các đại đoàn 312, 320, 316, 325,v.v… và đại đoàn pháo binh 351 được tổ chức vào những năm 1950-1951  để vừa xây dựng vừa chiến đấu, trưởng thành và tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ quyết định vào năm 1954. Sư đoàn phòng không 367 thành lập năm 1957 - 1958 đã nhanh chóng phát triển thành quân chủng phòng không không quân hiện đại, làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân chống chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân Mỹ nổ ra ngày 5-8-1964. Các quân đoàn chủ lực cũng được tổ chức sớm, có quân đoàn vừa tác chiến vừa tổ chức để hình thành cánh cung chiến lược phía Tây và phía Đông đánh vào Sài Gòn cuối Tháng 4-1975.
Về chỉ đạo tác chiến chiến lược: Ông đã thực hiện từng bước, chủ động và vững chắc: từ tạo thế chiến lược đến chuyển thế chiến lược và giành chủ động trên từng chiến trướng đến giành chủ động chiến lược trong cả nước. Ông nắm bắt đúng thời cơ chọn đúng đối tượng, đánh đúng ''huyệt hiểm yếu chí tử'' của địch để giáng đòn quyết định giành thắng lợi quyết định. Bốn kế hoạch chiến lược đầy tham vọng của thực dân Pháp kế tiếp nhau bí thất bại. Từ kế hoạch Leclerc, Valluy (Lơcờléc, Valuy) dùng chiến lược ''đánh nhanh thắng nhanh" bị phá sản đến kế hoạch Revers (Rơve 1949-1950) dùng chiến lược bình định lấn chiếm và bao vây cô lập nước ta với chính sách ''dùng người Việt đánh người Việt”, ''lấy chiến tranh nuôi chiến tranh'' cũng bị ra tro. Thực dân Pháp lại thay bằng kế hoạch chiến lược De Lattre de Tassigny (Đờlát đờ Tátsinhi 1950- 1953) với chiến lược ''tăng cường bình định vùng đồng bằng và trung du kết hợp tấn công bằng các binh đoàn mạnh" nhằm chia cắt chiến lược hậu phương ta, giành giật quyền chủ động''. Kế hoạch này cũng bị đập tan khi chúng đánh ra vùng Hòa Bình. Đứng trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, Chính phủ Pháp liền đưa tướng Henri Navarre (Hăngri Nava), một viên tướng có tiếng tăm lừng lẫy và đã từng chiến thắng ở chiến trường Bắc Phi, sang thay thế cho De Tassigny làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (5-1953) để hòng cứu vãn tình thế.
Song kế hoạch của Navarre cũng bị ra ma khi ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De Castri làm tiêu tan luôn ý chí xâm lược của thực dân Pháp buộc họ phải ký hiệp định đình chiến ở Genève, công nhận nền độc lập của 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia). Trong 9 năm xâm lược Việt Nam (1945 - 1954), 7 tướng sừng sỏ của Pháp[4]đã luân phiên nhau thất bại trước quân dân ta và viên tướng trẻ tuổi Việt Nam mới 43 tuổi.
Trải qua 21 năm liên tục chiến đấu; giải phóng miền Nam, có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương lãnh đạo, tướng Giáp đã chỉ huy quân và dân Việt Nam đánh thắng 5 loại hình chiến tranh ở miền Nam; 4 tướng Mỹ có tên tuổi[5]đã kế tiếp nhau thi thố tài năng, rút cục tướng Owen (Hoen) đành phải ngậm ngùi cuốn cờ trở về đất Mỹ.
Về chỉ đạo tác chiến chiến dịch; Đại tướng đã tham gia trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, có tầm quan trọng quyết định. Thực tiễn chiến thắng trên chiến trường đã khẳng đỉnh rằng quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Bộ Chính trị ĐCSVN cho ''xuất  tướng" vào những chiến dịch quyết định là qúy giá và vô cùng sáng suốt. Trong các chiến dịch đó, Đại tướng đã phát huy nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến dịch lên một đỉnh cao bằng những quyết đoán táo tạo, sắc bén, kịp thời và chính xác. Chiến dịch Biên Giới (9-1950 - 10-1950), ông đã chọn đúng điểm đột phá chiến dịch, vận dụng triệt để phương pháp tác chiến ''đánh điểm, diệt viện'' để tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn lê dương Lepage (Lơ pa giơ) và Charton (Sác tông) giải phóng Đường số 4, phá thế bao vây cô lập ta về chiến lược ''của kế hoạch Revers”. Chiến dịch Biên Giới đánh đấu một bước phát triển cao về nghệ thuật chiến dịch của quân ta. Tướng Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch đã lập kế điều động các binh đoàn cơ động của Pháp lên Đông Khê để tiêu diệt, thực hiện phương châm ''sức dùng một nửa công được gấp đôi”. Cao Bằng, Lạng Sơn ta không đánh mà địch phải rút chạy.
Trong chiến dịch Hòa Bình (12-1951 -  2-1952) nhằm đúng lúc tướng Pháp De Lattre de Tassigny đem chủ lực ra chiếm giữ Hòa Bình nhằm chia cắt chiến trường Bắc Bộ, để hở vùng hậu phương của chúng. Đại tướng đã dùng 3 sư đoàn: 308; 312; 304 giam chân và tiêu hao, tiêu diệt chủ lực địch ở mặt trận chính diện, và tung hai sư đoàn 316 đánh vào vùng trung du và 320 đánh vào vùng đồng bằng Thái Bình, Hà Nam Ninh, kết quả là quân ta đã phá rỗng hậu phương địch, chiến tranh nhân dân được đẩy mạnh ở những vùng này. Ta đã phá được âm mưu chia cắt chiến lược của địch và giành giữ được quyền chủ động chiến trường. Kế hoạch chiến lược De Tassigny của Pháp bị phá sản.
Dựa vào thế chiến lược đã được tạo ra có lợi, Bộ Chính Trị ĐLĐVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn điểm quyết chiến chiến lược là Điện Biên Phủ, nơi tập trung sinh lực tinh nhuệ của địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định Đại tướng trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Khi địch mới đổ quân xuống Điện Biên Phủ và bị bao vây, phương châm chiến dịch là ''Đánh nhanh, giải quyết nhanh'' với yêu cầu ''đánh tiêu diệt'' ''đánh chắc thắng”. Trước khi phát lệnh bắt đầu chiến dịch, Đại tướng kiểm tra lại tình hình thì thấy địch đã được tăng cường với lực lượng mạnh hơn, hệ thống trận địa phòng ngự được củng cố, có công sự vững chắc và đã hình thành thế liên hoàn của một tập đoàn cứ điểm mạnh. Lúc này, nếu đánh địch chạy, thì không chắc thắng.
Đại tướng đã đi đến một quyết định: "Hoãn thời gian nổ súng, kéo pháo ra, cho bộ đội lui về phía sau, chuẩn bị lại kỹ càng và đầy đủ mọi mặt”. Quyết tâm của ông đã được Đảng ủy chiến dịch nhất trí. Ông báo cáo lên Bác: "Quyết tâm thay đổi phương châm tác chiến từ đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc tiến chắc dù phải khắc phục nhiều khó khăn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chấp thuận đề nghị của Đại tướng.
Trong 55 ngày đêm, chiến dịch Điện Biên Phủ đã giành được thắng lợi quyết định và vang dội![6]Thế giới hồi đó khi nói đến Việt Nam là nhắc: ''Việt Nam - Hồ Chí Minh - Võ Nguyên Giáp Điện Biên Phủ”.

v     Đại tướng với cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975
Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (24-5 - 30-6-1973) xác định nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam lúc này là ". . . Tiếp tục con đường bạo lực cách mạng mở đường đi tới thắng lợi cuối cùng!. . .[7]
Trong những giờ phút rày, vấn đề lớn mà Đại tướng luôn trăn trở, dốc thiều tâm huyết là thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ước mong đó đã được thể hiện trong Nghị quyết Tháng 6-1973 của Bộ Chính trị ĐCSVN và sau đó Nghị quyết 21 (Tháng 10-1973) của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN.
Đại tướng đã chỉ thị thành lập Tổ Trung tâm của cục tác chiến, bao gồm những cán bộ tham mưu chiến lược lão luyện do Tổng tham mưu trưởng, tướng Văn Tiến Dũng và phó Tổng tham mưu trưởng, tướng Lê Trọng Tấn trực tiếp chỉ đạo (sau này khi hai ông ra mặt trận, thì phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất là tướng Hoàng Văn Thái, từ mặt trận miền Nam trở về thay thế chỉ đạo). Tổ Trung tâm được giao trọng trách nghiên cứu lập kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam. Ngày 18-7-1974, Đại tướng chỉ thị cho Tổ Trung tâm lập kế hoạch chiến lược cơ bản để thông qua Bộ Chính trị.[8]
Ngày 21-7-1974 tại Đồ Sơn, cố Tổng bí thư ĐCSVN Lê Quẩn phân tích cho Tổ Trung tâm rõ hơn tình hình mới và yêu cầu mới của cách mạng ở miền Nam.
"… Ngày nay, vấn đề Việt Nam và Đông Dương càng nổi lên trong vùng Đông Nam châu Á, một vùng mà nhiều nước kể cả Trung Quốc và Nhật đều có ý đồ tranh giành ảnh hưởng. . . Họ rất sợ ba nước Đông Dương thắng lợi và mạnh lên. Vấn đề đặt ra với ta là làm sao tạo thời cơ để giành thắng lợi sớm hơn, thắng ngay trong lúc các nước đó chưa sẵn sàng can thiệp. . . Ta cần nghiên cứu cách đánh thắng thế nào, phải thắng to, thắng nhanh để ngụy không kịp trở tay, các nước có ý đồ không kịp can thiệp. Muốn vậy phải chuẩn bị cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa dứt điểm trong vòng 1 – 2 tháng khi có thời cơ chiến lược,…[9].Giải phóng miền Nam với thời gian nhanh nhất, đó là yêu cầu của thời thế, đó là nguyện vọng thiêng liêng của đồng bào miền Nam và cả nước, nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong ngày 18-7-1974, khi chỉ thị cho Tổ trung tâm chuẩn bị kế hoạch chiến lược, Đại tướng đã nhận định và phân tích:
''…Xây dựng kế hoạch cơ bản theo hai bước, bước một: giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Đó là lúc ta đã làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường. . . ;bước hai: trên cơ sở đó phát triển lên tổng công kích - tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn.
Về chọn hướng chiến lược, nên chọn hai hướng: Tây Nguyên và miền Tây Nam Bộ…”[10]
Bản dự thảo kế hoạch chiến lược do Tổ Trung tâm làm, qua 7 lần bổ sung chỉnh lý đến tháng 8-1974 mới hoàn chỉnh và được đưa ra Hột nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đợt một phê duyệt (30-9 - 8-10-1974). Quyết tâm chiến lược là giải phóng miền Nam trong hai năm; năm 1975 đánh Nam Tây Nguyên và các nơi khác đánh phối hợp; Tây Nguyên là hướng chủ yếu. . . Thời cơ chiến lược có thể xuất hiện vào đợt hai sau khi đánh vào Nam Tây Nguyên. Trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lỡ thời cơ chiến lược…[11]
Sau chiến thắng Phước Long, ngày 5-2-1975, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được phái vào Tây Nguyên trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Tây Nguyên, chỉ huy hoạt động tác chiến của các binh đoàn thuộc Nam Bộ và chuẩn bị cho chiến dịch quyết định cuối cùng. 10-3-1975 Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt, gây một chấn động chiến lược cho địch. Sáng 16-3 địch ở Tây Nguyên rút chạy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích tình hình, đại ý: "Điểm trúng huyệt chí tử của địch ở Buôn Ma Thuột, gây cho địch chấn động về chiến lược, buộc địch phải rút bỏ Tây Nguyên, thì phải nhanh chóng đánh Huế và Đà Nẵng. Nếu ở đây chúng cũng phải rút lui chiến lược thì phải cấp tốc đánh thẳng vào Sài Gòn”.
Thế là sau 5 tháng thực hiện Nghị quyết, Tháng 10-1974, quân dân ta đã tạo nên sự chuyển biến mau lẹ tình hình chiến trường rất cơ bản. Ngày 18-3-1975. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp để chỉ đạo tác chiến, Đaịi tướng đề nghị lên Bộ Chính trị ''Hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm nay" (1975), bộ Chính trị đồng ý ''Hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm ngay trong năm 1975”. Với quyết tâm đó, trên thực tế cuộc tiến công chiến lược đã chuyển thành cuộc tổng tiến công chiến lược[12].
Liền sau đó 7 ngày (18-3 - 25-3-1975), Bộ Chinh trị và QUTƯ họp chính thức để nghe báo cáo và hạ quyết tâm mới. Cố Tổng bí thư Lê Quẩn cùng các ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đều phát biểu sôi nổi phân tích tình hình và đề ra nhiều ý kiến sắc bén để chỉ đạo. Đaịi tướng phân tích và  đề đạt: ''Không cần đợi giải quyết xong Huế mới bắt đầu tiến công Đà Nẵng; phải đánh Đà Nẵng.ngay. . . Ở hướng Sài Gòn, lực lượng đã đủ - yêu cầu trong tháng Năm phải giải quyết xong Sài Gòn . . . ?
Sau khi giải phóng Huế, Mặt trận Quảng Đà lập tức được thành lập gồm Quân đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 5 với Tư lệnh là phó Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, vị tướng mà cán bộ ở Tổng hành dinh thường mệnh danh là ''Giũ Cốp Việt Nam", và Chính ủy là tướng Chu Huy Mân (sau này là Đại tướng chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN).
Ngay sau khi được thành tập (27-3-1975) Mặt trận Quảng Đà đã nhanh chóng tổ chức lực lượng, tổ chức hiệp đồng tác chiến tấn công đồng loạt (29-3-1975) và chỉ trong 32 giờ quân ta đã đập tân một cụm quân lớn nhất ở phía Bắc chiến trường miền Nam do tướng ngụy Ngô Quang Trưởng chỉ huy, giải phóng căn cứ quân sự liên hiệp lớn Đà Nẵng. Thực chất đây chính là ''vòng cung chiến lược phía Đông'' mà Đại tướng Tổng tư lệnh đã ấp ủ, tính toán từ trước. Và chỉ trong một tháng thực hiện phương châm ''thần tốc táo bạo, bất ngờ chắc thắng'', vòng cung chiến lược phía Đông cùng các binh đoàn và bộ đội địa phương tại chỗ đã giải phóng toàn bộ các thành phố, thị trấn dọc Đường số 1, các tỉnh Đông Nam bộ; sau đó cùng Quân đoàn 4 và các lực lượng vũ trang thuộc Quân khu 7 tiến đánh thẳng vào Sài Gòn . . .
Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-4 - 30-4. Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng; Chính ủy: ông Phạm Hùng, Bí thư Trung ương cục Đảng CSVN; Phó tư lệnh: tướng Trần Văn Trà, tướng Lê Trọng Tấn v.v...) đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của dân tộc giao cho. . .
Tướng Giáp và Bộ Tổng tư lệnh đã thiết kế nên một thế trận giải phóng miền Nam với mưu kế thật kỳ diệu: căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến. Phía Bắc giữ địch ở mặt trận Huế - Đà Nẵng. Phía Nam giữ địch ở Sài Gòn. Giữ địch ở hai đầu như thế làm cho địch bộc lộ sơ hở ở quãng giữa miền Trung và Tây Nguyên. Khi địch đã rơi vào mưu kế và thế trận của ta sắp đặt, ta bất ngờ phá vỡ Tây Nguyên, tạo ra đột biến về chiến lược. Lợi dụng thời cơ, giải phóng Huế, Đà Nẵng, đẩy địch vào thế bị tan rã và sau đó tập trung toàn bộ lực lượng gồm 5 Quân đoàn giải phóng Sài Gòn.
v     Văn võ song toàn
Đại tướng là người ham nghiên cứu học tập. Ông đọc các sách Đông, Tây, Kim, Cổ; nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh, lịch sử quân sự thế giới và của một số nước; đọc các trước tác của Marx, Engels, Lenine, Mao Trạch Đông, v.v. . . của Napoléon, Tôn Tử, Clausewitz và một số tác giả đương đại khác. Ông trân trọng học tập binh thư của tổ tiên, nghiên cứu binh thư của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi. Ông tiếp thu và phát triển sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Tất cả những cái đó để ông tự bồi đắp cho mình một học vấn uyên thâm về khoa học quân sự.
Thư viện Trung ương của quân đội đã lưu giữ được nhiều tác phẩm và sách lý luận của Đại tướng từ năm 1948 đến ray: 64 đầu sách với 10328 trang in; trong đó có cả những tác phẩm văn học, sách viết về đề tài khoa học, kỹ thuật, kinh tế v.v. . . có cuốn được tái bản đến 5 lần. Đó là chưa kể đến hai cuốn mới được xuất bản trong răm 1995 là cuốn Chiến đấu trong vòng vây Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có 21 tuyển tập gồm các lệnh động viên, báo cáo tổng kết, diễn văn, huấn thị, chỉ thị,v.v…
Hiện nay Đại tướng đã ở tuổi 95 nhưng vẫn còn khỏe, minh mẫn không ngừng làm việc và viết sách. Số trang sách in của ông chắc không dừng lại ở con số 10328 trang.
Uy tín của Đại tướng tỏa rộng trong nước và ngoài nước.
Ký giả Piter Mac Donal (Pitơ Mác-đô-nan) người Anh viết: "1944 đến 1975, cuộc đời của ông Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, đã làm ông trở thành một trong những Thống soái lớn của tất cả các thời đại.
Với 30 năm làm Tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở Cấp Cao nhất, ông đã tỏ ra là  người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh; khó có vị tướng soái nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy ở trình độ cao. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”[13].
Ký giả G.Bonrlet (G. Bon nê) người Pháp viết vào Từ điển Bách khoa toàn thư Pháp: ''Là người tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam, ông Võ Nguyên Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự Mác xít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp”[14].

Donal S. Marshall (Đô nan S.Mắc san) ký giả người Mỹ viết: ''Đại tướng Giáp, vị tướng 5 sao của quân đội Bắc Việt Nam kiêm Bộ trưởng quốc phòng là vị tướng duy nhất được biết đến nhiều nhất trong các cuộc chiến tranh Đông Dương - Việt Nam. Ông Giáp (còn cô tên là anh Văn) đã có một vị trí trong lịch sử Thế giới qua việc lãnh đạo lực lượng Việt Minh đánh bại lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ. . .[15]

Gia Cát Lượng - Khổng Minh (181 - 234)

Từ xưa đến nay, trong dân gian, người ta đã thần thánh hóa nghệ thuật chỉ huy của Gia Cát Lượng, coi đó là hiện thân của trí tuệ. Cuộc đời chinh chiến mang đầy tính huyền thoại của ông đã cho thấy ông đúng là một nhà quân sự lỗi lạc. Không ít các nhà quân sự nổi tiếng sau này đã thành công khi vận dụng một  cách sáng tạo nghệ thuật quân sự của ông. Ông là người đã kế thừa và phát triển được binh pháp cổ dại và xây dựng thành một hệ thống quân sự khá độc đáo.


Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh sinh năm 181 ở huyện Đô, quận Lang Nha (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Vì bố mẹ mất sớm, nên từ nhỏ  Gia Cát Lượng đã đi theo người chú làm quan là Gia Cát Huyền sinh sống ở Dự Dương (nay là Nam Xương, Giang Tây) và Kinh Châu. Năm 197, Gia Cát  Huyền chết. Lúc đó, Gia Cát Lượng bước sang tuổi 17, bắt đầu bước vào cuộc sống tự lập, ông dựng mấy ngôi nhà tranh ở Long Chung, huyện Đặng, quận Nam Dương (nay là chỗ cách thành phố Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc khoảng 20  dặm) và sống ẩn dật ở đó 10 năm, tự cày ruộng để sinh sống, người ta kính trọng gọi ông là ''Ngọa Long tiên sinh''.
Mùa đông năm 207, nhờ Từ Thứ và Tư Mã Huy tiến cử Lưu Bị ở tuổi 47 lặn lội qua gió rét tìm đến tận Long Trung để gặp Gia Cát Lượng.
Hai lần đầu đến đều không gặp, lần thứ ba Lưu Bị mới gặp được Gia Cát  Lượng. Tận mắt thấy Lưu Bị là một người trọng hiền đãi sĩ, lại hết mức chân  thành, ông đã đồng ý giúp Lưu Bị khôi phục lại nhà Hán.
Đầu tiên, Gia Cát Lượng phân tích cặn kẽ tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, địa lý, con người... trong nước lúc đó, rồi phác thảo ra chiến lược phục hưng cơ nghiệp nhà Hán. Đoạn nói chuyện, được sử sách ghi chép lại dưới tựa đề nổi tiếng là ''Cuộc đối thoại ở Long Trung'', Gia Cát Lượng chỉ ra rằng: nếu như chiếm được Kinh Châu và Ích Châu, dựa vào thế hiểm yếu để cố thủ, đồng thời xây dựng mối quan hệ hữu hảo với các dân tộc thiểu số ở miền Tây; đối với  các dân tộc thiểu số ở miền Nam thì áp dụng chính sách động viên vỗ về. Về  mặt đối ngoại thì liên kết đồng minh với Tôn Quyền; về đối nội thì thực hành cải  cách chính trị, tích cực xây dựng lực lượng. Khi nào thời cơ cho phép, thì cử  một viên đại tướng tài năng và mẫn cán đem quân Kinh Châu sang đánh lấy Uyển Thành (nay là Nam Dương, tỉnh Hà Nam) và Lạc Dương mưu đồ giành lấy Trung Nguyên, còn Lưu Bị thì tự minh đem quân ích Châu đánh lấy Tần Châu nay là vùng Thiểm Tây, Cam Túc) tiến lên chiếm Tràng An. Đến lúc đó,  dân chúng ai cũng đem cơm trắng, rượu ngon để đón tiếp. Nếu thực hiện được việc đó thì việc lớn của Lưu Bị chắc sẽ thành công, cơ đồ nhà Hán sẽ được khôi phục.
Nhằm thực hiện kế hoạch to lớn đó, xuất phát từ tình hình thực tế, Gia Cát Lượng còn phân tích thêm về các thế lực cát cứ và so sánh lực lượng giữa các thế lực đó cũng như quan hệ đối kháng với nhau, rồi đề nghị với Lưu Bị thực hiện ba bướu trong kế hoạch chiến lược. Một là, tiêu diệt các thế lực yếu kém như: Lưu Biểu, Lưu Trương để chiếm Kinh Châu, ích Châu xây dựng thành căn cứ địa, hình thành thế chân vạc với Tào Tháo, Tôn Quyền. Hai là, cải thiện mối quan hệ với các dân tộc thiểu số, tiến hành cải cách chính trị, ổn định nội bộ,  tích trữ lực lượng, kết giao với Tôn Quyền để cô lập Tào Tháo, chờ đợi thời cơ. Ba là, nắm bắt thời cơ có lợi nhất, chia binh thành hai ngả, tiến lên phía Bắc đánh Ngụy, hoàn thành nhiệm vụ thống nhất. Kế hoạch chiến lược với tầm nhìn xa rộng cho thấy Gia Cát Lượng tuy tuổi còn trẻ nhưng đã có tầm nhìn của một nhà chiến lược lỗi lạc.
Ông đã giúp Lưu Bị phát triển quân đội, dùng kế lấy được Kinh Châu. Khi Tào Tháo đem đại quân Nam thành, Lưu Bị đã bị thua to ở dốc Trường Bản, Gia Cát Lượng tự mình đi sứ sang Đông Ngô để thuyết phục Tôn Quyền liên kết chống Tào và giành được thắng lợi vang dội ở trận Xích Bích. Ông hỗ trợ Lưu Bị mở rộng hầu hết địa bàn Kinh Châu, sau đó giành được Ích Châu, tạo thành thế cát cứ ba chiều hình chân vạc, bước đầu thực hiện được giai đoạn 1 của kế hoạch được nêu ra trong cuộc đối thoại ở Long Trung.
Sau khi Lưu Bị ốm chết, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá hậu chúa Lưu Thiền mới có 17 tuổi. Với chức danh thừa tướng ông gánh vác trọng trách trị vì Thục Hán, tiếp tục phấn đấu cho mục tiêu thống nhất thiên hạ nhà Đại Hán.
Năm 223, Gia Cát Lượng bắt tay vào thực hiện bước 2 của kế hoạch chiến lược. Một mặt, ông cử Đặng Chi sang làm sứ giả ở Đông Ngô, khôi phục lại mối quan hệ đồng minh với Tôn Quyền. Đồng thời chấn chỉnh nền chính trị trong nước, ổn định nội bộ, dự trữ lương thực, chuẩn bị kĩ lưỡng cho cuộc chiến Bắc phạt. Đúng lúc đó ở Nam Trung (nay thuộc huyện miền Nam Tứ Xuyên, miền Đông Vân Nam và miền Tây Bắc Quý Châu) xảy ra cuộc phản loạn vũ  trang ở quận ích Châu (nay thuộc Tấn Ninh, Vân Nam) của bọn địa chủ do Ung Khải cầm đầu, họ đã giết chết quan Thái thú do Thục Hán bổ nhiệm. Tiếp đó, lại  nổ ra hai cuộc nổi loạn khác để hưởng ứng, đó là cuộc khởi nghĩa của Chu Bảo ở Hoàng Bình - Quý Châu và Cao Định ở Tây Xương - Tứ Xuyên. Ung Khải sai  Mạnh Hoạch tiến hành tuyên truyền xuyên tạc trong đồng bào thiểu số ở vùng Nam Trung. Do Mạnh Hoạch kích động nên phong trào chống đối ngày càng mạnh mẽ, đội ngũ ngày càng đông đảo chẳng bao lâu đã lan truyền khắp vùng  Nam Trung .
Sau khi xảy ra phản loạn, đầu tiên Gia Cát Lượng áp dụng chính sách an ủi vỗ về không thảo phạt, tức là giải quyết bằng phương thức hòa bình. Tuy nhiên, Ung Khải lại cho rằng chính quyền Thục Hán nhu nhược, yếu đuối, có thể lấn tới được nên y càng quậy phá mạnh hơn. Vì vậy muốn ổn định hậu phương, nhằm thực hiện việc lớn là Bắc phạt, Gia Cát Lượng quyết tự mình đem quân  xuống phía Nam.
Đầu năm 225, Gia Cát Lượng sai Mã Trung chỉ huy cánh quân phía Đông, đi từ Nghi Tân xuống phía Đông Nam để đánh Chu Bảo; cử Lý Khôi  đang đóng quân tại Bình Dị nay là huyện Tất Tiết, tỉnh Quý Châu) đem binh mã dưới quyền làm cánh quân trung lộ đánh vào quận ích Châu, nhằm bao vây bọn Ung Khải. Còn Gia Cát Lượng đích thân dẫn quân chủ lực đi theo hướng Tây, trước hết đánh Cao Định, sau đó sẽ hợp với hai cánh quân và tập trung đánh Ung Khải, dập tắt cuộc bạo loạn. Cánh quân phía Tây dưới sự chỉ huy của Gia Cát Lượng xuất phát từ An Thượng (nay thuộc Bình Sơn - Tứ Xuyên) tiến vào vùng nổi loạn. Cao Định đã cho quân đào hào đắp luỹ phòng thủ tại Hán Nguyên, Diêm, Nguyên, Chiêu Giác... Gia Cát Lượng cố ý chần chừ không tiến quân. Khi Cao Định tập trung quân từ các nơi về một chỗ, Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân phản loạn, giết chết Cao Định. Trong lúc đó, cánh quân phía Đông của Mã Trung cũng đánh bại Chu Bảo, giải  quyết cơ bản cuộc bạo loạn ở hai phía Đông và Tây. Gia Cát Lượng chỉ huy cả ba cánh quân thừa thắng truy kích, thọc thẳng vào hang phản loạn của Ung Khải  ở Ích Châu.
Tháng 5, đạo quân của Gia Cát Lượng hành quân qua vùng rừng núi hiểm trở, vượt qua sông Kim Sa, đến gần được quận Ích Châu. Lúc đó Ung Khải đã bị thuộc hạ của Cao Định giết chết. Mạnh Hoạch thế chân Ung Khải làm thủ lĩnh quân phản loạn. Nhận thấy uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của Mạnh Hoạch ở vùng Nam Trung, vì muốn giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu  số vùng này với triều đình Thục Hán, với mục đích tạo được sự ổn định lâu dài và chắc chắn cho vùng Nam Trung, nên Gia Cát Lượng quyết định đánh vào lòng người của Mạnh Hoạch, coi đó là chiến thuật chủ đạo. Gia Cát Lượng hạ lệnh đánh nhau với Mạnh Hoạch, quân Thục chỉ được phép bắt sống, không được giết chết hoặc làm bị thương.
Trận đầu giao tranh, quả nhiên Mạnh Hoạch bị bắt sống, Gia Cát Lượng không giết, không làm nhục mà còn khoản đãi, nhằm làm cho Mạnh Hoạch chịu hàng phục.
Gia Cát Lượng tha cho Mạnh Hoạch về. Mạnh Hoạch tập hợp lực lượng giao tranh lần nữa, nhưng vẫn thua và bị quân Thục bắt sống. Lần này, Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu phục. Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra, cứ như vậy lặp đi lặp lại đến 7 lần. Cuối cùng, Mạnh Hoạch nhận thấy Gia Cát Lượng quả thật là con người mưu lược phi thường, và trong thâm tâm không có ý định thù địch với mình nên đã chịu phục. Sau khi Mạnh Hoạch chịu thần phục thì các thế lực phản loạn ở miền Nam cũng nhanh chóng lần lượt quy hàng.
Sau khi ổn định được khu vực Tây Nam, Gia Cát Lượng bắt đầu suy tính đến kế hoạch Bắc phạt Tào Nguy, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước Trung Quốc, đó cũng là ý tướng ấp ủ từ lâu của Gia Cát Lượng. Mùa xuân năm 228, Gia Cát Lượng thống lĩnh 10 vạn đại quân xuất phát từ Hán Trung đi về  hướng Bắc để chinh phạt Nguỵ. Gia Cát Lượng quyết định xuất quân ở Kỳ Sơn, trận đầu đánh chiếm Lũng Hữu (nay thuộc Cam Túc), trận tiếp theo sẽ đánh chiếm Quan Trung, đánh chắc thắng chắc. Ông cho loan tin đại quân Gia Cát Lượng sắp sửa theo hướng hẻm Tà Cốc để đánh vào Mỹ Thành; cử Triệu Vân, Đặng Ngải đem một bộ phận binh lực đi chiếm Kỳ Cốc (nay thuộc địa bàn huyện Thái Bạch, tỉnh Thiểm Tây) và làm ra vẻ như muốn đi theo đường Tà Cốc để tiến lên phía Bắc, nhằm thu hút sự chú ý của quân Tào, trong khi đó Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân chủ lực tiến theo đường Kỳ Sơn về hướng Tây Bắc.
Quân Tào ở nước Nguỵ không thể ngờ rằng Thục Hán nhỏ bé lại dám đánh Ngụy, nên ở phía Lũng Hữu không hề bố trí quân đội phòng ngự. Quân Thục qua nhiều năm được Gia Cát Lượng dày công huấn luyện đã trở thành một đạo quân hùng hậu dũng mãnh, hiệu lệnh rất nghiêm minh, xuất quân từ Kỳ Sơn, như thế chẻ tre, nhanh chóng chiếm được ba quận đường đất Lũng Hữu là Thiên Thuỷ, An Nam, An Định, dụ hàng được danh tướng Ngụy là Khương  Duy, gây xôn xao cả một miền Quang Trung. Ngụy Minh Đế Tào Duệ nghe tin  thất kinh, lập tức sai tướng Tào Chân đem quân đi chi viện cho My Thành, nhằm ngăn chặn Triệu Vân, lại sai tướng Trương Hợp dẫn 50.000 kỵ binh và bộ binh  tiến nhanh đến Nhai Đình, vòng đằng sau đánh tập hậu vào quân Thục, hòng chiếm lại Lũng Hữu. Tào Duệ cũng tự mình đến Tràng An để chỉ huy tác chiến.
Gia Cát Lượng đang có ý đánh chiếm hai quận Quảng Ngụy và Lũng Tây để chiếm trọn cả vùng Lũng Hữu, bỗng nghe tin đại quân của Trương Hợp đang vòng đánh từ hướng Tây. Nhằm đảm bảo an toàn hai bên sườn, để phát triển cuộc tấn công, Gia Cát Lượng lập tức hạ lệnh cho tiên phong Mã Tốc đem tiền quân đánh gấp, lấy Nhai Đình. Nhai Đình nằm ở khoảng giữa sông Vị và núi Mạch Tích – đó chính là con đường huyết mạch để đi từ Thiểm vào Lũng. Trước khi đi, Gia Cát Lượng năm lần bảy lượt dặn dò Mã Tốc hãy cẩn trọng. Không ngờ Mã Tốc tự cho mình là thông minh, dám vi phạm phương án bố trí của Gia Cát Lượng, đưa đến hậu quả Nhai Đình bị thất thủ, làm cho Gia Cát Lượng mất  bàn đạp tấn công, lỡ mất cơ hội đánh chiếm Lũng Hữu. Xét tình hình thực tế, Gia Cát Lượng cho rằng quân Thục không thể tiếp tục giao chiến được nữa, ông quyết định thu quân trở về Hán Trung.
Sau khi về đến Hán Trung để giữ nghiêm kỷ luật, Gia Cát Lượng, cho chém Mã Tốc, đồng thời viết tờ tấu dâng lên Lưu Thiền xin hạ tước vị của mình xuống ba bậc, và công bố sai lầm của bản thân mình cho cả nước được biết, làm gương cho mọi người tự vạch khuyết điểm của mình.
Tháng 12 năm đó, nhân cơ hội Lục Tốn ở Đông Ngô đánh bại quân Tào Hữu ở Thạch Bình (nay thuộc vùng Đông Bắc Tiềm Sơn, tỉnh An Huy); quân chủ lực phải chi viện cho mặt trận phía Đông; vùng Quang Trung tương đối trống vắng, Gia Cát Lượng liền tổ chức cuộc Bắc phạt lần thứ hai. Quân Thục đi qua Tán Quan (nay thuộc vùng Tây Nam Bảo Kê - Thiểm Tây) hành quân đến Trần Thương (nay ở phía Đông Bảo Kê). Địa thế ở Trần Thương vô cùng hiểm trở, dễ giữ khó đánh, được coi là nơi các nhà quân sự phải chiếm bằng được. Trước đó Tào Chân đã cho Hách Chiêu tăng cường phòng bị. Gia Cát Lượng chỉ  huy quân đội đánh ròng rã hai mươi ngày mà không suy suyển, lại thêm lương thảo quân Thục dần cạn kiệt. Về phía quân Ngụy thì đại tướng Trương Hợp dẫn viện binh vừa đến, do đó Gia Cát Lượng chủ động dỡ bỏ vòng vây.
Mùa xuân năm 229, Gia Cát Lượng phát động chiến dịch Bắc phạt lần thứ ba, trận đầu chiếm được hai quận là Vũ Đô (thủ phủ ở vùng phía Tây Bắc, huyện Thành, tỉnh Cam Túc) và quận Dương Bình (Thủ Phủ ở phía Tây Bắc, huyện Văn, tỉnh Cam Túc) thuộc đất Lũng Hữu, sau đó thừa thế thu quân. Do lập công trong chiến dịch chiếm hai quận này, nên Lưu Thiền đã phục chức Thừa tướng cho Gia Cát Lượng.
Tháng 2.231, Gia Cát Lượng lại thống lĩnh đại binh xuất quân từ Kỳ Sơn, tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ tư. Mục tiêu lần này vẫn là chiếm đất Lũng Hữu, nhưng tiền đồn để xuất quân đẩy lên Vũ Đô, Bình Dương. Ông phái một cánh quân vây khốn Kỳ Sơn và tự mình chỉ huy chủ lực chuẩn bị giao tranh một trận sống mái với cánh quân tăng viện của nước Nguỵ. Lúc này, người thống soái quân Ngụy được đã chuyển sang cho vị tướng tài ba giỏi dùng binh pháp là Tư Mã Ý. Tư Mã Ý nghĩ rằng quân Thục lương thảo ít, dễ đánh lâu dài, nên dựa  vào thế đất hiểm yếu để cố thủ, không chịu ra đánh. Gia Cát Lượng chờ mãi không được, đành dẫn quân rút lui về phía Kỳ Sơn, nhằm lôi kéo quân Ngụy ra ngoài để đánh. Tư Mã Ý cho quân đuổi theo rất thận trọng, khi quân Thục dừng lại, họ cũng dừng lại không đuổi nữa, tuy nhiên họ chỉ cắm trại cố thủ.
Đến tháng 6 do trời mưa to hết ngày này sang ngày khác, việc vận lương thực rất khó khăn. Tướng phụ trách việc vận lượng là Lý Nghiêm giả mạo chiếu thiên tử lệnh cho Gia Cát Lượng lui binh. Gia Cát Lượng đành chấp nhận rút quân, trên đường rút lui còn gài bẫy, chém được danh tướng nước Ngụy dẫn quân đuổi theo là Trương Hợp.
Mùa xuân năm 234, sau mấy năm chuẩn bị, Gia Cát Lượng lại dẫn 100.000 đại binh tiến theo đường Tà Cốc, mở đầu cuộc chiến tranh Bắc phạt lần thứ năm, mặt khác sai sứ thần sang hẹn với Tôn Quyền cùng tấn công. Tháng 4, quân Thục hành quân đến huyện My. Lúc này, quân Ngụy do Tư Mã Ý thống lĩnh đã đến bờ Nam sông Vị Thuỷ. Tư Mã Ý đã khai thác thế yếu của quân Thục mới hành quân từ xa, đến, vận chuyển lương thực khó khăn, quyết định thủ để  công, nhờ yếu tố thời gian làm cho quân Thục phải tan rã.
Quân Nguỵ kiên quyết cố thủ không đánh, đã đưa Gia Cát Lượng vào tình thế giằng co, không thể tiến triển được.
Tháng 7, đội quân do Tôn Quyền chỉ huy sang đánh Ngụy lại bị thất bại lui về Giang Đông. Tháng 8, do vất vả mệt nhọc lâu ngày mà sinh bệnh, Gia Cát Lượng không may ốm chết trong doanh trại Ngũ Trượng Nguyên, chỉ thọ 54  tuổi.
Theo đánh giá chung, cuộc đời binh nghiệp của Gia Cát Lượng rất phong phú, đa dạng. Ông đã để lại di sản quy báu về tư liệu, kiến thức quân sự cho đời sau. Ông kiên trì dùng quân pháp để xây dựng và chỉ huy quân đội. Ông cho rằng thưởng phạt nghiêm minh, giữ nghiêm kỉ luật là yếu tố tạo ra sức mạnh. Nếu kỷ luật không nghiêm, thưởng phạt không phân minh, thì cho dù quân đông đến hàng trăm vạn cũng không thể chiến thắng được kẻ thù. Gia Cát Lượng chú ý áp dụng những kỹ thuật sản xuất tiên tiến để phục vụ cho chiến tranh. Ông  phát minh và phổ biến ''con trâu gỗ'' (là loại xe đẩy bằng gỗ có bốn chân và một  bánh) xe ngựa (loại xe bằng gỗ, có người đẩy, bốn bánh) giải quyết được vấn đề vận tải lương thực ở miền núi. Khổng Minh rất coi trọng khâu cải tiến trang thiết bị, phát minh ra loại cung liên hoàn kiểu mới, một lần bắn được mười mũi tên,  đáng kể là bát trận đồ của ông còn gọi là ''bát trận pháp'', được người đời sau rất coi trọng. Ngoài ra, Gia Cát Lượng còn để lại nhiều câu danh ngôn về bình luận quân sự. Ví dụ trong cuốn Binh yếu, ông nói: “Nguyên tắc dùng binh, trước hết  phải xác định mưu kế, sau đó quán triệt phương án thực hành. Cần tìm hiểu tình hình thiên thời, địa lợi, quan sát lòng người, thông thạo sử dụng vũ khí, vạch rõ nguyên tắc thưởng phạt, nghiên cứu sách lược của đối phương, xem xét địa thế  đường sá, nhận biết địa hình có lợi và bất lợi, phán đoán tương quan lực lượng đách - ta, hiểu rõ thời cơ tiến thoái, biết chọn đúng thời cơ tác chiến, làm tốt công tác chuẩn bị phòng ngự. Tăng cường sức mạnh, nâng cao bản lĩnh chiến sĩ, đúc rút bài học thắng bại, cân nhắc cái giá của sự sống và cái chết. Sau đó mới quyết định điều binh khiển tướng, cắt cử tướng lĩnh, nhằm tạo nên thế trận diệt  thù. Đó chính là yếu lĩnh cầm quân đánh giặc”.

Danh Ngôn

Quảng cáo

Chuye giay dep tre em Giày dép trẻ em Giay dep tre em Sale domain

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 ĐỨC VINH