Thân phận và cuộc đời

Công nghệ

Kinh tế

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Mao Trạch Đông (1893 - 1976)



Mao Trạch Đông - Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, người  đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều người cho rằng những chính sách để xây dựng và phát triển đất nước của ông là không phù hợp, thậm chí là sai lầm nhưng trong triệu triệu trái tim của người Trung Quốc, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi như một nhân vật anh hùng kiệt xuất trong lịch  sử dân tộc, bởi những đóng góp của ông cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là vô cùng to lớn.


Mao Trạch Đông sinh ngày 26.2.893 ở Thiền Sơn tỉnh Hồ Nam, thuộc miền Nam Trung Quốc trong một gia đình thuộc tầng lớp nông dân nghèo. Nhờ buôn bán thóc gạo, dần dần gia đình khấm khá lên và trở thành phú nông.
Cha ông là Mao Thuận Sinh, một người rất nghiêm khắc, gia trưởng và ham mê công việc. Ngay từ khi còn nhỏ, Mao Trạch Đông đã phải làm nhiều công việc vất vả nặng nhọc. Mẹ ông là Văn Kỳ Mỹ, sau khi lấy chồng gọi là Mao Văn Thị, một cô gái Hồ Nam chăm chỉ hiền lành, hết lòng thương yêu chồng con. Bà là người có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cuộc đời của Mao Trạch Đông. Cái chết của bà sau này đã để lại trong lòng Mao Trạch Đông một nỗi đau thương không gì bù đắp nổi.
Cuộc nội chiến ở Trung Hoa đầu thế kỷ 20 đã làm gia đình ông tan tác. Năm 1930, Mao Trạch Hồng, chị gái ông bị bắn chết. Năm 1935, Mao Trạch  Đàm em trai ông cũng bị giết ở Phúc Kiến. Năm 1943, một người em trai khác  của ông là Mao Trạch Dân cũng bị giết dưới bàn tay của Tưởng Giới Thạch. Trải qua nhiều biến cố đau thương đã tạo cho Mao Trạch Đông một đức tính cứng rắn, quyết đoán và kiên nghị. Tính cách này đã giúp ông thành công trong  sự nghiệp vì nó phù hợp với con đường ông đã chọn, nhưng nó lại không mấy phù hợp với đời sống riêng tư.
Tuổi thơ và thời niên thiếu của Mao Trạch Đông trôi đi trong nỗi vất vả cực nhọc vì người bố phong kiến luôn muốn ông ở nhà để lo công việc đồng áng và tính toán sổ sách cho ông. So với các bạn đồng trang lứa, Mao Trạch Đông không được đến trường đều đặn, ông luôn phải nghỉ học để lo phụ giúp gia đình. Năm 13 tuổi, cha ông buộc ông phải nghỉ học để ở nhà làm việc. Nhưng đến năm 15 tuổi Mao Trạch Đông tiếp tục đi học bất chấp sự phản đối quyết liệt của người cha. Ông không muốn cuộc đời mình cũng quẩn quanh như cuộc đời của cha ông.
Không như nhiều người khác, nhân vật lịch sử mà Mao Trạch Đông rất  khâm phục lại là Tần Thuỷ Hoàng([1]).
Những năm 1913 - 1918, Mao Trạch Đông theo học trường Sư phạm I, tỉnh Hồ Nam dưới sự dẫn dắt của Dương Xương Tế, một giáo sư triết học của  trường. Sau này ông đã cưới con gái thầy mình làm vợ. Năm 1917, ông cùng một số sinh viên thành lập nhóm nghiên cứu Tân Dân học hội. Ông được bầu làm người đứng đầu của nhóm. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm I, năm 1918,  Mao Trạch Đông tham gia và nhóm nhiên cứu chủ nghĩa xã hội do Lý Tự Đại  sáng lập.
Chịu ảnh hưởng khá mạnh của thầy mình là Dương Xương Tế, Mao Trạch Đông sớm đi theo con đường hoạt động chính trị và đã gặt hái được rất nhiều những thành công: Ông sáng lập ra Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, sau 28 năm xây dựng chiến đấu, Mao Trạch Đông đã tổ chức ra Quân giải phóng Trung Quốc và thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Ông đã thành công lớn trong việc tập hợp được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc để thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn.
Năm 1934, những cuộc tấn công dồn dập và ác liệt của Quốc dân Đảng nhằm loại bỏ Đảng Cộng sản khiến Mao Trạch Đông phải lãnh đạo Đảng Cộng sản đưa quân đội của mình làm một cuộc Trường chinh vĩ đại vượt hơn 10.000km để đến một căn cứ mới. Năm 1937, Nhật đem quân xâm lược Trung Quốc. Trước tình hình khó khăn ấy, Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản đã liên minh lại để tiến hành cuộc chiến tranh kháng Nhật cứu nước. Chiến tranh kết  thúc, Mao Trạch Đông được nhiều tầng lớp nhân dân ủng hộ nhiệt tình. Ông tiến hành cuộc chinh phạt Quốc dân Đảng, thống nhất giang sơn thành một mối.
Ngày 1.10.1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hoà  nhân dân Trung Hoa và trở thành vị lãnh tụ đầu tiên của quốc gia rộng lớn này. Ông đã lãnh đạo nhân dân lật đổ giai cấp địa chủ và xây dựng các công xã nông  nghiệp.
Trên con đường chính trị đầy khó khăn thử thách, Mao Trạch Đông ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của quần chúng nhân dân đã nhận được sự trợ giúp tận tuỵ của Chu Ân Lai, một người bạn đồng hành thông minh và trung thành. Chính Chu Ân Lai - khi thành lập nước được bầu làm thủ tướng và tại vị 26 năm - đã trở thành bức bình phong che chắn cho Mao Trạch Đông trong cuộc Đại Cách  mạng Văn hoá.
Về cuộc sống riêng tư, Mao Trạch Đông đã từng kết hôn tới bốn lần nhưng chưa một lần ông được hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn. Mạnh mẽ, quyết đoán trong công việc, chèo lái một đất nước rộng lớn với số dân lớn nhất ông làm được, nhưng để quản lý một gia đình, đó là một điều rất khó đối với Mao Trạch Đông. Không thành công ở những chính sách kinh tế năm 1957 - 1959, Mao Trạch Đông phải từ bỏ vai trò lãnh đạo nhà nước Trung Hoa. Đến  năm 1966, ông tiến hành cuộc Đại cách mạng vô sản và cuộc Đại cách mạng  văn hoá vô sản này đã gây ra những phản ứng tiêu cực trong một bộ phận nhân  dân. Tính thiếu thực tế, tả khuynh... của cuộc Cách mạng văn hoá cũng đi vào hồi cáo chung sau cái chết của ông và tháng 9. 1976.
Mao Trạch Đông đã vĩnh viễn ra đi, những cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi trong lòng người dân Trung Hoa như một nhân vật anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Trịnh Công Sơn - Đừng để hồn mình mòn đi vì....

"Đừng để hồn mình mòn đi vì những tổn thương tưởng có thật mà không thật"
-----Trịnh Công Sơn----



Trịnh Công Sơn
(28/2/1939 – 1/4/2001)


Là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam. Trong sự nghiệp âm nhạc, ông đã sáng tác trên 600 tác phẩm, phần lớn là tình ca. Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ dù không chuyên.
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý. Ông từng lý giải cho cái sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư

Nguyễn Bá Thanh - Cái gì không thuộc về mình thì đừng có lấy

"Cái gì không thuộc về mình thì đừng có lấy, đói quá thì đi xin. Đã làm người thì phải có lòng tự trọng"


Nguyễn Bá Thanh (18/4/1953 – 13/2/2015)

 là một chính khách Việt Nam, nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Việt Nam. Ông cũng từng là phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng - cơ quan trực thuộc Bộ chính trị.

Ông được biết tới vì đã có những đóng góp lớn lao trong việc làm thay đổi diện mạo thành phố Đà Nẵng và cuộc sống của nhân dân nơi đây. Nhiều người cho rằng hiếm có một lãnh đạo nào có tâm, có tài và nhiều nhiệt huyết, hết lòng vì dân như ông.
Theo: Bách khoa tri thức

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Thomas Edison - Tất cả mọi thứ sẽ đến với người biết..

"Thiên tài một phần trăm là cảm hứng và chín mươi chín phần trăm là mồ hôi."
Genius is one percent inspiration and ninety-nine percent perspiration.

"Tất cả mọi thứ sẽ đến với người biết hối hả trong khi chờ đợi."
Everything comes to him who hustles while he waits.






Thomas Alva Edison (11/2/1847 – 18/10/1931)
là nhà phát minh và thương nhân người Mỹ. Ông đã phát triển nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ 20 như máy quay đĩa, máy quay chuyển động và bóng đèn. Được đặt danh hiệu "Thầy phù thủy ở Menlo Park", ông là một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàng loạt và lao động tập thể quy mô lớn vào quá trình sáng tạo, và vì thế, ông thường được coi là người đã tạo ra phòng nghiên cứu công nghiệp đầu tiên.
Edison là một nhà phát minh tài ba, với 1093 bằng sáng chế tại Mỹ, cũng như nhiều bằng sáng chế tại Anh, Pháp, Đức. Các sáng chế của ông về bóng đèn điện và các ứng dụng điện khác, các thiết bị thu âm và thu hình, có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống, và là khởi điểm của những ngành công nghiệp mới trên khắp thế giới.
Trong cuộc đời, ông đã giành được rất nhiều giải thưởng cho những phát minh của mình, gồm Huân chương Matteucci Medal (1887) - giải thưởng Ý đặt theo tên Carlo Matteucci dành cho các nhà vật lý, Huân chương John Scott (1889) - huân chương dành cho những người với các phát minh làm cải thiện đáng kể 'sự thoải mái, sức khỏe và hạnh phúc của nhân loại', Huân chương Edward Longstreth (1899) của Viện Franklin, Huân chương John Fritz (1908) của Hiệp hội Cộng đồng Kỹ thuật Mỹ dành cho "những thành tựu khoa học công nghệ vượt trội", Huân chương Edward Longstreth (1915) của Viện Franklin vì những phát kiến đóng góp cho nền móng của nền công nghiệp cũng như cho lợi ích của nhân loại, Huân chương Phục vụ xuất sắc Hải quân của Hải quân Mỹ (1920), Huân chương Edison (1923) - do Hiệp hội Kỹ sư điện Mỹ lập ra theo tên ông và ông là người đầu tiên nhận được, Huân chương Vàng Quốc hội (1928).
Sau khi mất, năm 1983, Quốc hội Hoa Kỳ đã lập ngày 11/2, ngày sinh của Edison, thành Ngày của nhà Phát minh trên toàn quốc. Ông cũng được vinh danh với giải Grammy Kỹ thuật vào năm 2010.

Theo: Bách khoa tri thức


Les Brown - Cuộc sống có ý nghĩa khi bạn...

"Cuộc sống có ý nghĩa khi bạn có động lực, đặt mục tiêu và theo đuổi chúng không gì ngăn cản được."
Life takes on meaning when you become motivated, set goals and charge after them in an unstoppable manner.

Danh nhân - Les Brown



Les Brown - (17/2/1945)
Leslie Calvin "Les" Brown (17/2/1945) là nhà diễn thuyết, tác gia nổi tiếng người Mỹ. Ông từng là chính trị gia, thành viên Hạ viên Ohio.
Les Brown sinh ngày 17 tháng Hai năm 1945 tại một tòa nhà bỏ hoang tại thành phố Liberty, một khu vực thu nhập thấp của Miami, Florida, và được bà Mamie Brown nhận nuôi khi được sáu tuần tuổi. Lúc đó bà là một phụ nữ độc thân 38 tuổi, một người nội trợ và đầu bếp tại một quán ăn tự phục vụ, có học vấn thấp và không giàu có, nhưng đã dành cho Les Brown và người anh em sinh đôi, Wesley Brown tình yêu và sự chăm sóc, nuôi nấng.
Vào lớp năm, Les Brown bị coi là có trí tuệ chậm phát triển và phải quay lại học lớp bốn, rồi sau này không qua được lớp tám vì thiếu sự tập trung trong học tập và do giáo viên không nhận ra được tài năng thực sự của ông. Nhờ vào sự tin tưởng và ủng hộ của mẹ mình mà ông vượt qua được điều này. Khao khát học hỏi và mong muốn phát triển bản thân đã giúp ông vươn lên dù không được ăn học quá trung học. Sự quyết tâm và kiên trì để vượt qua nghèo khó, cùng với triết lý "làm bất cứ điều gì để thành công" của ông đã khiến ông trở thành một tác gia nổi tiếng về phát triển năng lực của con người và tìm kiếm thành công.
Les Brown đạt được giải thưởng Council of Peers Award of Excellence của Hiệp hội National Speakers vào năm 1987. Ông là một nhà diễn thuyết nổi tiếng trên toàn nước Mỹ vì những thông điệp đầy sức sống kêu gọi con người vượt qua nghèo khó và sống hết mình, hết tài năng của mình. Đó là thông điệp mà Les Brown học được từ chính cuộc đời mình và giúp đỡ mọi người bằng cách chia sẻ nó.

Hiện giờ ông sống ở Chicago và là một trong những giác viên dạy khóa học trực tuyến tại Success University, trường Đại học Thành công.

Một số danh ngôn nổi tiếng khác của ông:

"Hãy có trách nhiệm với cuộc đời mình. Hãy biết rằng chính bạn là người sẽ đưa bạn tới nơi bạn muốn đến chứ không phải ai khác."
Accept responsibility for your life. Know that it is you who will get you where you want to go, no one else.

"Có người thắng, có kẻ thua, và có những người vẫn chưa học được cách để chiến thắng."

There are winners, there are losers and there are people who have not yet learned how to win.

Theo: Bách khoa tri thức

Nguyễn Du (1766-1820)

Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình quí tộc, tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Cha ông là tiến sĩ Nguyễn Nghiễm, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, làm tể tướng thời Lê-Trịnh. Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần, người huyện Đông Ngàn, Trấn Kinh Bắc (nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh). Nguyễn Du được sinh ra ở phường Bích Câu - Thăng Long (Hà Nội).
Năm Nguyễn Du lên 10 tuổi thì cha mất và 12 tuổi mẹ mất. Nguyễn Du sống với anh cả là Nguyễn Khản cũng là quan đầu triều, rất giàu sang ở kinh đô Thăng Long. Trong suốt thời niên thiếu đến khi lập gia đình, Nguyễn Du sống nghèo khổ, phải ăn nhờ ở đậu nay nhà anh mai chỗ khác. Hơn nữa sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước có nhiều biến động, chính quyền Lê – Trịnh suy tàn, tiếp đó quân thanh xâm lược nước ta, rồi phong trao nông dân Tây Sơn như vũ bão quét sạch bè lũ bán nước và cướp nước, Nguyễn Du đã trải qua nhiều năm vất vả.
Năm 1783 Nguyễn Du thi Hương đỗ Tam Trường và giữ chức quan võ ở Thái Nguyên. Năm 1786, Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du) bỏ Thăng Long về quê tổ chức chống lại, nhưng sau bị bệnh chết. Tiếp đó gia đình họ hàng Nguyễn Du phân hoá sâu sắc. Nhiều  người ủng hộ tập đoàn Lê Chiêu Thống, song cũng có người đi theo Tây Sơn. Ví như anh cùng mẹ và anh vợ của Nguyễn Du công khai hợp tác với nghĩa quân Tây Sơn và ra làm quan ở triều Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Đối với Nguyễn Du, có lúc muốn chống lại, nhưng bất lực. Vì vậy, thời gian này ông về quê vợ ở Quỳnh Côi (Thái Bình) sống nhờ, sau đó về quê hương xứ Nghệ.
Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh lên làm vua, ra chiếu trưng tập các cựu thần là Lê, Nguyễn Du cũng bị gọi và bị bắt buộc ra làm quan. Mùa thu năm ấy, ông làm tri huyện Phù Dung (Phù Tiên – Hưng Yên). Đến 1805, ông về Huế làm Đông Các đại học sĩ rỗi Cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813ông làm Chánh sứ sang Trung Quốc, khi về nước làm Thanh Tri bộ Lễ.
Tuy là quan chức trong triều đình, nhưng Nguyễn Du lại là một nhà thơ của thời đại, là người phát ngôn của những người bị chế độ phong kiến chà đạp. Ông đã để lại cho nhân dân đất nước nhiều văn phẩm thể hiện tâm huyết, tài năng của ông. Đó là: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục (chữ Hán); truyện Kiều và nhiều bài thơ khác (chữ Nôm). Thông qua ngòi bút của Nguyễn Du, ngôn ngữ Việt Nam được hoàn thiện, thật sự trong sáng phong phú. Trong đó truyện Kiều là một tác phẩm vĩ đại bất hủ.

Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một bản tổng kết, một thông điệp của cuộc đời, để con người giao cảm với thế giới tâm linh, thế giới của những xúc cảm, huyền ảo mà rất đời thường ít có tác phẩm nào ngay khi ra đời đã được chào đón như truyện Kiều. Không chỉ chào đón, yêu thích, người đọc còn gửi gắm ở truyện Kiều một niềm tin, niềm tin vào tình yêu và cuộc sống, vào ngôn ngữ bất diệt của văn hoá dân tộc. Truyện Kiều là một bài ca về tình yêu, là một cuốn sách cuộc đời. Cho đến nay, không ai tính được có bao nhiêu người đã đọc và yêu truyện Kiều. Người ta không những đọc mà còn “bói Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều, tranh Kiều, tuồng Kiều, phim Kiều…”. Chúng ta có nhiều sách nghiên cứu, từ điển tra cứu về truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du đề cập và thương cảm nhiều nhất đến những phận đời đen bạc của xã hội đương thời. Trong những con người bị áp bức ấy có thân phận những người phụ nữ đau khổ, tủi hờn…GS Vũ Ngọc Khánh viết về ông: “Nguyễn Du đến với nhân dân lao động bao đời nay trong cả một bầu tâm sự cảm thông sâu sắc. Đó là một khát vọng của nhân dân cách mạng nên trong sóng gió cuộc đời, thấm nhuần bản chất của nhân dân, của dân tộc. Đó cũng là một con người nhân bản, đau với nỗi đau của nhân dân, nỗi đau bãi biển nương dâu, lên án chế độ bạo tàn, đòi cho con người có hạnh phúc, tình yêu, tự do và công lý. Ngòi bút của Nguyễn Du đã phanh phui được thế lực của đồng tiền, vạch trần những kẻ nhai thịt người mà không lòi lanh vuốt”([1])
Tháng 9 năm 1920 Nguyễn Du bị cảm rồi mất. Để ghi nhận tài năng của đại thi hào dân tộc, năm 1965 ông được Nhà nước chính thức làm lễ kỉ niệm. Ông cũng được thế giới ghi tên trong sách danh nhân của nhân loại.

Theo: Bách khoa tri thức

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) và sự hồi sinh của dân tộc Việt

Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Đất Mê Linh xưa là đất bản bộ của vua Hùng. Vùng đất này kéo dài dọc hai bờ sông Hồng từ Việt Trì (Phú Thọ) đến Hà Nội và trải rộng ra vùng núi Ba Vì (Hà Tây), lan rộng sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với địa bàn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây hiện nay.

            Truyền thuyết kể lại rằng, cha mẹ Hai Bà Trưng làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải. Xưa kia nuôi tằm, tổ kén tốt gọi là kén chắc, tổ kén kém hơn gọi là kén nhì; trứng ngài tốt gọi là trưng chắc, trứng ngài kém hơn gọi là trứng nhì. Do đó, tên hai bà vốn rất giản dị là Trứng Chắc Trứng Nhì, phiên theo tiếng Hán gọi là Trưng Trắc Trưng Nhị.

            Cha mất sớm, mẹ hai bà là Man Thiện (tương truyền là cháu ngoại vua Hùng) đảm đương việc nuôi dạy con cái. Bà hướng dẫn các con trồng dâu, nuôi tằm và luyện tập võ nghệ. Lớn lên trong cảnh loạn lạc, Hai Bà Trưng đã sớm trưởng thành, đặc biệt là Trưng Trắc, Bà tỏ ra là người “rất can đảm, dũng lược”. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách[1]cũng là con Lạc tướng ở huyện Chu Diên. Sách ''Đại Việt sử kí toàn thư” có xác nhận sự kiện này: “Thi sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau”[2]. Việc hai hai gia đình kết thông gia làm cho thanh thế của họ càng lên cao.
            Bấy giờ, nhà Đông Hán đang cai trị nước ta. Chúng chia nước ta thành ba quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam), Cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) và Nhật Nam (Quảng Bình trở vào đến Quảng Nam) để dễ bề cai trị và thực hiện âm mưu đồng hoá. Nhà Hán bắt nhân dân phải cống nộp đủ mọi thứ của ngon vật lạ, như: ngà voi, sừng tê, đồi mồi, ngọc châu, vàng bạc, và bóc lột tô thuế nặng nề làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ.
            Năm 34, Tô Định được cử sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Hắn tham lam, tàn ác, thường xuyên giết hại vô cớ nhiều dân thường, làm cho đời sống nhân dân ta ngày càng cùng cực.
            Trước cảnh nước mất, nhà tan lại được chứng kiến sự tàn ác của Thái thú Tô Định, Thi Sách và Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dạy chống lại nhà Đông Hán. Việc chưa thành thì bị bại lộ, Tô Định đã giết chết Thi Sách[3]trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, hòng làm nhụt ý chí của Trưng Trắc. Nhưng hành động đó của Tô Định chỉ làm thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù giặc trong lòng Trưng Trắc. Bà cùng với em gái của mình Trưng Nhị đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, chống nhà Đông Hán.
            Mục đích hay nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa này đã được ghi lại rất rõ trong “Thiên Nam ngữ lục”, (thế kỉ XVIII), mà sử vẫn thường gọi là ''Lời thề Trưng Trắc'':
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin lấy lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻ vẹn sở công lênh này
            Khi ra trận, dù còn đang mang tang chồng, Bà vẫn ăn vận rất đẹp, tướng sĩ thấy vậy hôi, Bà khẳng khái đáp lại: “Việc binh quyền, nếu giữ lễ làm dung nhan xấu xí, thì tự làm giảm nhuệ khí, nên ta mặc đẹp để cho thế quân hùng tráng; vả lại lũ kia thấy thế, tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu, thì ta dễ có phần thắng”[4]. Câu trả lời đã khẳng định thêm bản lĩnh kiên cường quyết tâm tiêu diệt giặc của Trưng Trắc, đồng thời, nó cũng thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, đặt lợi ích nhà lên trên hết của Bà Trưng.
            Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng phát động cuộc khởi nghĩa ở khu vực cửa sông Hát (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây). Cửa sông Hát là chỗ gặp nhau của hai con sông lớn (sông Hồng và sông Đáy. Đây là 11 đầu mối giao thông thuỷ quan trọng nhất nước ta thời bấy giờ. Hơn nữa, sông Hát lại có vị trí rất thuận lợi để xây dựng căn cứ khởi nghĩa:
“Hát Môn có thể dụng binh.
Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”.
(Thiên Nam ngữ lục)
            Hai Bà Trưng đã khai thác triệt để thuận lợi của thiên nhiên để xây dựng căn cứ khởi nghĩa, chuẩn bị lực lượng và phát động khởi nghĩa.
            Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Sách Hậu Hán thư còn chép lại: “Những người Man, người Lý (dân tộc phương Nam – TG chú) ở bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng”[5]. Rất nhiều phụ nữ đã tham gia vào nhiều cuộc khởi nghĩa, trở thành những tướng soái của Hai Bà, như: Nữ tướng Lê Chân (Hải Phòng), Vũ Thục Nương (Thái Bình), Thiều Hoa, Diệu Tiên, Man Thiện, Bát Nàn, Đào Kỳ… Hai Bà còn liên lạc và phối hợp với các cuộc đấu tranh vũ trang ở các địa phương khác đang hoạt động độc lập. Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân lớn mạnh nhanh chóng.
            Từ cửa sông Hát, nghĩa quân theo dọc sông Hồng đánh chiếm Đô úy trị (thuộc Hạ lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc), rồi đánh chiếm lại thành Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội). Từ Cổ Loa, nghĩa quân mở cuộc tấn công trực tiếp vào thành Luy lâu (nay thuộc xã Lũng Khê, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - sào huyệt của chính quyền đô hộ. ''Bà Trắc rất hùng dũng, đi đến đâu như gió lướt đến đấy[6]. Trước sức tấn công mạnh mẽ của nghĩa quân, chính quyền địch tan rã nhanh chóng. Thái thú Tô Định phải bỏ chạy khỏi thành, bỏ cả ấn tín, cắt tóc, cạo râu mới trốn về được Nam Hải.
            Sau khi chiếm được thành Luy Lâu, Hai Bà chia quân đi truy quét bọn quan quân nhà Hán ở các huyện thành. Chỉ sau một thời gian ngắn, nghĩa quân đã làm chủ được 65 huyện thành trong cả nước. Nền độc lập dân tộc được khôi phục sau hơn 150 năm bị nô lệ.
            Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toát đã diễn tả lại sự kiện này một cách sinh động:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.
Đô kì đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta…”


            Sau thắng lợi, nhân dân suy tôn Trưng Trắc lên làm vua. Bà lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh (nay thuộc khu vực Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Trưng Vương đã xá thuế hai năm liền cho nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đồng thời, Bà cũng ban thưởng và phong chức tước cho những người có công trong cuộc khởi nghĩa đất nước tạm yên ổn.
            Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và công cuộc xây dựng nền độc lập tự chủ của đất nước ta trong một thời gian đã chứng tỏ sự trỗi dậy ý thức tự chủ của dân tộc. Nó phủ định hiên ngang cái tư tưởng bành trướng bá quyền và chủ nghĩa Đại Hán của phương Bắc.
            Có thể nói, đây là cuộc nổi dậy đầu tiên có qui mô lớn kể từ đầu thời Bắc thuộc đến thời điểm này. Cuộc khỏi nghĩa vừa mang tích chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Một mặt, nó quy tụ về cửa sông Hát, về khu vực quận Giao Chỉ theo sự chỉ đạo thống nhất của Hai Bà Trưng. Mặt khác, nó cũng toả rộng ra khắp các vùng trong cả nước và lôi kéo được cả các bộ tộc Việt ở miền Nam Trung Quốc tham gia. Cuộc khởi nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc, thể hiện tài trí tuyệt vời của Hai Bà Trưng.
            Nhà sử học Lê Văn Hưu đời Trần có nhận xét: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được”[7].
            Sau này, tác giả Ngô Sỹ Liên lại một lần nữa khẳng định khí phách của Hai Bà Trưng: “Họ Trưng giận Thái Thú nhà Hán bạo ngược, liền vung tay hô một tiếng mà khiến cho quốc thống của nước nhà có cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng đâu phải chỉ khi sống thì dựng nước xưng vương, mà còn cả ở khi chết còn có thể ngăn chặn tai họa. Phàm gặp những tai ương hạn lụt, cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả đến Trưng Nhị cũng vậy. Ấy là vì đàn bà mà có đức hạnh của kẻ sĩ, cho nên, khí hùng dũng ở trong khoảng trời đất chẳng vì thân đã chết mà kém đi”[8].
            Về phía nhà Hán, nghe tin thái thú Tô Định để mất Giao Chỉ, vua Hán đã cử ngay Mã Viện, một viên tướng khét tiếng là ác bá sang đàn áp cuộc khởi nghĩa, hòng chiếm lại Giao Chỉ. Lúc này, Mã Viện đã 58 tuổi, là một lão tướng có nhiều chiến công và kinh nghiệm đàn áp phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc Tạng - Miến và nông dân ở An Huy (Trung Quốc). Cùng với Mã Viện còn có Phiêu Kỵ tướng quân Đoàn Chí được phong làm Lâu Thuyền tướng quân chỉ huy đạo binh thuyền sang Giao Chỉ, Lưu Long vốn làm thái thú Nam Quận (Hồ Bắc), được phong làm Trung Lam tướng quân tước hầu làm phó tướng cho Mã Viện, Bình Lạc Hầu Hàn Vũ.
            Mùa xuân năm 42, Mã Viện dẫn 2 vạn binh và 2.000 thuyền xe, chia làm hai đạo thuỷ, bộ tiến đánh nước ta. Đạo quân bộ do Mã Viện trực tiếp chỉ huy vượt qua các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông đến Hợp Phố tiến vào Âu Lạc. Đạo thuỷ quân do Đoàn Chí chỉ huy theo đường biên đến Hợp Phố để hội quân với đạo quân bộ của Mã Viện đã cùng tiến vào Âu Lạc. Đến Hợp Phố, Đoàn Chí chết. Mã Viện thống suất cả 2 đạo thuỷ, bộ, kéo vào Âu Lạc. Từ vùng ven biển nước ta, hai đạo quân thủy bộ ngược sông Bạch Đằng tới Lục Đầu Giang tiến sâu vào Giao Chỉ, đến thẳng Lãng Bạc (Tiên Du, Hà Bắc). Mùa hạ năm 43, quân giặc ráo riết chuẩn bị tiến công quân đội của Hai Bà.
            Sau một thời gian chờ đợi, chưa thấy Mã Viện tiến quân, Bà Trưng chủ động cử Thánh Thiên đưa quân lên Hợp Phố giữ mạn Bắc. Hai Bà cùng Lê Chân đưa quân lên trấn giữ phía Nam. Thế giặc rất lớn, đạo quân ở phía Bắc đã phải rút lui. Mã Viện thúc quân xuống phía Nam, gặp quân Hai Bà ở Lãng Bạc (nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Tại đây đã diễn ra các trận đánh quyết liệt khiến cho quân Mã Viện lâm vào tình trạng thiếu lương thực tinh thần rệu rã. Nhiều lúc, Mã Viện phải tính đến chuyện rút quân về nước. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, Mã Viện nhanh chóng lấy lại được ưu thế. Quân Hai Bà Trưng ngày càng yếu đi. Hai Bà buộc phải rút quân từ Lãng Bạc về Cổ Loa, rồi về Hạ Lôi. Mã Viễn tiếp tục đưa quân tiến đánh Hạ Lôi, giết hại hàng vạn người không kể già, trẻ, lớn, bé.
            Sau một năm cầm cự, trước sức tấn công mạnh mẽ của Mã Viện, Hai Bà Trưng phải lui về Cấm Khê (nay thuộc Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Tây). Tại đây, nghĩa quân lấy sông Đáy làm hào ngoài, lấy núi Ba Vì hiểm yếu làm chỗ dựa, lại có khu vực Chửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) làm hậu cứ phía sau. Hai Bà Trưng hi vọng căn cứ Cấm Khê sẽ là cơ sở vững chắc để nghĩa quân xây dựng lực lượng đồng thời là bàn đạp để tổ chức phản công khi có thời cơ.
            Nhưng, một lần nữa, trước sức tấn cống mạnh mẽ của Mã Viện, căn cứ Cấm Khê cũng bị phá vỡ. Hai Bà Trưng hi sinh anh dũng. Cuộc khởi nghĩa đến đây thất bại[9].
            Sau khi Hai Bà Trưng chết, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ. Trong đền, những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt đối không có sơn đỏ. Nhân dân địa phương khi vào thờ cũng không ai dám mặc áo đỏ. Tương truyền rằng Hai Bà Trưng đã chết vì binh đao nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu.
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, đất nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Hán.
            Hai Bà Trưng đứng dậy khởi nghĩa tuy chỉ giành lại độc lập cho đất nước trong một thời gian ngắn ngủi 3 năm (40 - 43) nhưng đó chính là bản anh hùng ca bất diệt cho tinh thần yêu nước, yêu độc lập của dân tộc Việt Nam đầu thời Bắc thuộc. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về hai vị nữ anh hùng của dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị. Tác giả Ngô Thời Sỹ trong “Việt sử tiêu án” đã ca ngợi: “Không gì khó thu phục được là nhân tâm, không gì khó nắm giữa được là quốc thế, lại càng khó nữa là một đàn bà mà tập hợp được cả nhân dân trai tráng làm đồng chí… Trưng Vương là đàn bà góa, búi tóc đứng lên, những con trai trong nước đều cúi đầu chịu Bà chỉ huy, các quan to ở năm mươi thành cũng đều nín hơi, không dám kháng cự… Tiếng tăm hùng dũng của Bà chấn động cả Trung Hoa, cơ nghiệp mở mang của Bà dọc ngang trong trời đất, thật là anh hùng”[10].
            Vua Tự Đức (trị vì 1847 - 1883) khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng đã ngự phê: Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!”[11]         
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một biện tượng hết sức độc đáo trong lịch sử dân tộc. Trong điều kiện khó khăn của một đất nước nông nghiệp, hai thiếu nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ đã đứng lên lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành độc lập, mở đầu cho lịch sử dân tộc đi lên. Các sử gia phong kiến sau này cũng ví công lao ấy của Bà như những người phụ nữ anh hùng vĩ đại của Trung Quốc: “Trong sách Bắc sử về đời Hán, Đường, cũng có vua đàn bà, như họ Lã, họ Vũ, nhưng đều là nhờ thế đã làm mẫu hậu rồi, mà nắm lấy quyền nhân chủ, thì dễ dàng lung lạc được trong nước, múa may với đàn trẻ. Đến như Bà Trưng là một đàn bà bình thường mà khởi lên được thì khó lắm…. Ông vua bị mất nước, hoặc là bị bắt, hoặc là đầu hàng; con gái ở cảnh nhà tan, hoặc phải bỏ đi, hoặc bị tủi nhục. Bà chị mất nước, bà em cũng tuẫn tiết theo chị, không chịu đầu hàng cũng không chịu để bắt, người chồng ở dưới đất được nhắm mắt, kẻ gian tà trông thấy thế phải cúi đầu. Vua tôi Văn Thúc (tướng Hán) không làm gì nổi. Chết rồi mà tiếng thơm vẫn còn… từ Nữ Oa có việc động trời đến giờ, chỉ có hai chị em Bà Trưng nữa thôi đấy”[12].
            Hai Bà Trưng chính là những người đầu tiên viết nên trang sử vẻ vang chống Bắc thuộc của dân tộc, đã đem đến sự hồi sinh cho tinh thần đấu tranh của dân tộc Việt.

Theo: Bách khoa tri thức

Danh Ngôn

Quảng cáo

Chuye giay dep tre em Giày dép trẻ em Giay dep tre em Sale domain

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 ĐỨC VINH