danh nhan

Hiển thị các bài đăng có nhãn danh nhan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn danh nhan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) và sự hồi sinh của dân tộc Việt

Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Đất Mê Linh xưa là đất bản bộ của vua Hùng. Vùng đất này kéo dài dọc hai bờ sông Hồng từ Việt Trì (Phú Thọ) đến Hà Nội và trải rộng ra vùng núi Ba Vì (Hà Tây), lan rộng sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với địa bàn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây hiện nay.

            Truyền thuyết kể lại rằng, cha mẹ Hai Bà Trưng làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải. Xưa kia nuôi tằm, tổ kén tốt gọi là kén chắc, tổ kén kém hơn gọi là kén nhì; trứng ngài tốt gọi là trưng chắc, trứng ngài kém hơn gọi là trứng nhì. Do đó, tên hai bà vốn rất giản dị là Trứng Chắc Trứng Nhì, phiên theo tiếng Hán gọi là Trưng Trắc Trưng Nhị.

            Cha mất sớm, mẹ hai bà là Man Thiện (tương truyền là cháu ngoại vua Hùng) đảm đương việc nuôi dạy con cái. Bà hướng dẫn các con trồng dâu, nuôi tằm và luyện tập võ nghệ. Lớn lên trong cảnh loạn lạc, Hai Bà Trưng đã sớm trưởng thành, đặc biệt là Trưng Trắc, Bà tỏ ra là người “rất can đảm, dũng lược”. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách[1]cũng là con Lạc tướng ở huyện Chu Diên. Sách ''Đại Việt sử kí toàn thư” có xác nhận sự kiện này: “Thi sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau”[2]. Việc hai hai gia đình kết thông gia làm cho thanh thế của họ càng lên cao.
            Bấy giờ, nhà Đông Hán đang cai trị nước ta. Chúng chia nước ta thành ba quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam), Cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) và Nhật Nam (Quảng Bình trở vào đến Quảng Nam) để dễ bề cai trị và thực hiện âm mưu đồng hoá. Nhà Hán bắt nhân dân phải cống nộp đủ mọi thứ của ngon vật lạ, như: ngà voi, sừng tê, đồi mồi, ngọc châu, vàng bạc, và bóc lột tô thuế nặng nề làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ.
            Năm 34, Tô Định được cử sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Hắn tham lam, tàn ác, thường xuyên giết hại vô cớ nhiều dân thường, làm cho đời sống nhân dân ta ngày càng cùng cực.
            Trước cảnh nước mất, nhà tan lại được chứng kiến sự tàn ác của Thái thú Tô Định, Thi Sách và Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dạy chống lại nhà Đông Hán. Việc chưa thành thì bị bại lộ, Tô Định đã giết chết Thi Sách[3]trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, hòng làm nhụt ý chí của Trưng Trắc. Nhưng hành động đó của Tô Định chỉ làm thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù giặc trong lòng Trưng Trắc. Bà cùng với em gái của mình Trưng Nhị đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, chống nhà Đông Hán.
            Mục đích hay nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa này đã được ghi lại rất rõ trong “Thiên Nam ngữ lục”, (thế kỉ XVIII), mà sử vẫn thường gọi là ''Lời thề Trưng Trắc'':
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin lấy lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻ vẹn sở công lênh này
            Khi ra trận, dù còn đang mang tang chồng, Bà vẫn ăn vận rất đẹp, tướng sĩ thấy vậy hôi, Bà khẳng khái đáp lại: “Việc binh quyền, nếu giữ lễ làm dung nhan xấu xí, thì tự làm giảm nhuệ khí, nên ta mặc đẹp để cho thế quân hùng tráng; vả lại lũ kia thấy thế, tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu, thì ta dễ có phần thắng”[4]. Câu trả lời đã khẳng định thêm bản lĩnh kiên cường quyết tâm tiêu diệt giặc của Trưng Trắc, đồng thời, nó cũng thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, đặt lợi ích nhà lên trên hết của Bà Trưng.
            Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng phát động cuộc khởi nghĩa ở khu vực cửa sông Hát (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây). Cửa sông Hát là chỗ gặp nhau của hai con sông lớn (sông Hồng và sông Đáy. Đây là 11 đầu mối giao thông thuỷ quan trọng nhất nước ta thời bấy giờ. Hơn nữa, sông Hát lại có vị trí rất thuận lợi để xây dựng căn cứ khởi nghĩa:
“Hát Môn có thể dụng binh.
Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”.
(Thiên Nam ngữ lục)
            Hai Bà Trưng đã khai thác triệt để thuận lợi của thiên nhiên để xây dựng căn cứ khởi nghĩa, chuẩn bị lực lượng và phát động khởi nghĩa.
            Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Sách Hậu Hán thư còn chép lại: “Những người Man, người Lý (dân tộc phương Nam – TG chú) ở bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng”[5]. Rất nhiều phụ nữ đã tham gia vào nhiều cuộc khởi nghĩa, trở thành những tướng soái của Hai Bà, như: Nữ tướng Lê Chân (Hải Phòng), Vũ Thục Nương (Thái Bình), Thiều Hoa, Diệu Tiên, Man Thiện, Bát Nàn, Đào Kỳ… Hai Bà còn liên lạc và phối hợp với các cuộc đấu tranh vũ trang ở các địa phương khác đang hoạt động độc lập. Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân lớn mạnh nhanh chóng.
            Từ cửa sông Hát, nghĩa quân theo dọc sông Hồng đánh chiếm Đô úy trị (thuộc Hạ lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc), rồi đánh chiếm lại thành Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội). Từ Cổ Loa, nghĩa quân mở cuộc tấn công trực tiếp vào thành Luy lâu (nay thuộc xã Lũng Khê, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - sào huyệt của chính quyền đô hộ. ''Bà Trắc rất hùng dũng, đi đến đâu như gió lướt đến đấy[6]. Trước sức tấn công mạnh mẽ của nghĩa quân, chính quyền địch tan rã nhanh chóng. Thái thú Tô Định phải bỏ chạy khỏi thành, bỏ cả ấn tín, cắt tóc, cạo râu mới trốn về được Nam Hải.
            Sau khi chiếm được thành Luy Lâu, Hai Bà chia quân đi truy quét bọn quan quân nhà Hán ở các huyện thành. Chỉ sau một thời gian ngắn, nghĩa quân đã làm chủ được 65 huyện thành trong cả nước. Nền độc lập dân tộc được khôi phục sau hơn 150 năm bị nô lệ.
            Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toát đã diễn tả lại sự kiện này một cách sinh động:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.
Đô kì đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta…”


            Sau thắng lợi, nhân dân suy tôn Trưng Trắc lên làm vua. Bà lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh (nay thuộc khu vực Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Trưng Vương đã xá thuế hai năm liền cho nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đồng thời, Bà cũng ban thưởng và phong chức tước cho những người có công trong cuộc khởi nghĩa đất nước tạm yên ổn.
            Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và công cuộc xây dựng nền độc lập tự chủ của đất nước ta trong một thời gian đã chứng tỏ sự trỗi dậy ý thức tự chủ của dân tộc. Nó phủ định hiên ngang cái tư tưởng bành trướng bá quyền và chủ nghĩa Đại Hán của phương Bắc.
            Có thể nói, đây là cuộc nổi dậy đầu tiên có qui mô lớn kể từ đầu thời Bắc thuộc đến thời điểm này. Cuộc khỏi nghĩa vừa mang tích chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Một mặt, nó quy tụ về cửa sông Hát, về khu vực quận Giao Chỉ theo sự chỉ đạo thống nhất của Hai Bà Trưng. Mặt khác, nó cũng toả rộng ra khắp các vùng trong cả nước và lôi kéo được cả các bộ tộc Việt ở miền Nam Trung Quốc tham gia. Cuộc khởi nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc, thể hiện tài trí tuyệt vời của Hai Bà Trưng.
            Nhà sử học Lê Văn Hưu đời Trần có nhận xét: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được”[7].
            Sau này, tác giả Ngô Sỹ Liên lại một lần nữa khẳng định khí phách của Hai Bà Trưng: “Họ Trưng giận Thái Thú nhà Hán bạo ngược, liền vung tay hô một tiếng mà khiến cho quốc thống của nước nhà có cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng đâu phải chỉ khi sống thì dựng nước xưng vương, mà còn cả ở khi chết còn có thể ngăn chặn tai họa. Phàm gặp những tai ương hạn lụt, cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả đến Trưng Nhị cũng vậy. Ấy là vì đàn bà mà có đức hạnh của kẻ sĩ, cho nên, khí hùng dũng ở trong khoảng trời đất chẳng vì thân đã chết mà kém đi”[8].
            Về phía nhà Hán, nghe tin thái thú Tô Định để mất Giao Chỉ, vua Hán đã cử ngay Mã Viện, một viên tướng khét tiếng là ác bá sang đàn áp cuộc khởi nghĩa, hòng chiếm lại Giao Chỉ. Lúc này, Mã Viện đã 58 tuổi, là một lão tướng có nhiều chiến công và kinh nghiệm đàn áp phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc Tạng - Miến và nông dân ở An Huy (Trung Quốc). Cùng với Mã Viện còn có Phiêu Kỵ tướng quân Đoàn Chí được phong làm Lâu Thuyền tướng quân chỉ huy đạo binh thuyền sang Giao Chỉ, Lưu Long vốn làm thái thú Nam Quận (Hồ Bắc), được phong làm Trung Lam tướng quân tước hầu làm phó tướng cho Mã Viện, Bình Lạc Hầu Hàn Vũ.
            Mùa xuân năm 42, Mã Viện dẫn 2 vạn binh và 2.000 thuyền xe, chia làm hai đạo thuỷ, bộ tiến đánh nước ta. Đạo quân bộ do Mã Viện trực tiếp chỉ huy vượt qua các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông đến Hợp Phố tiến vào Âu Lạc. Đạo thuỷ quân do Đoàn Chí chỉ huy theo đường biên đến Hợp Phố để hội quân với đạo quân bộ của Mã Viện đã cùng tiến vào Âu Lạc. Đến Hợp Phố, Đoàn Chí chết. Mã Viện thống suất cả 2 đạo thuỷ, bộ, kéo vào Âu Lạc. Từ vùng ven biển nước ta, hai đạo quân thủy bộ ngược sông Bạch Đằng tới Lục Đầu Giang tiến sâu vào Giao Chỉ, đến thẳng Lãng Bạc (Tiên Du, Hà Bắc). Mùa hạ năm 43, quân giặc ráo riết chuẩn bị tiến công quân đội của Hai Bà.
            Sau một thời gian chờ đợi, chưa thấy Mã Viện tiến quân, Bà Trưng chủ động cử Thánh Thiên đưa quân lên Hợp Phố giữ mạn Bắc. Hai Bà cùng Lê Chân đưa quân lên trấn giữ phía Nam. Thế giặc rất lớn, đạo quân ở phía Bắc đã phải rút lui. Mã Viện thúc quân xuống phía Nam, gặp quân Hai Bà ở Lãng Bạc (nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Tại đây đã diễn ra các trận đánh quyết liệt khiến cho quân Mã Viện lâm vào tình trạng thiếu lương thực tinh thần rệu rã. Nhiều lúc, Mã Viện phải tính đến chuyện rút quân về nước. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, Mã Viện nhanh chóng lấy lại được ưu thế. Quân Hai Bà Trưng ngày càng yếu đi. Hai Bà buộc phải rút quân từ Lãng Bạc về Cổ Loa, rồi về Hạ Lôi. Mã Viễn tiếp tục đưa quân tiến đánh Hạ Lôi, giết hại hàng vạn người không kể già, trẻ, lớn, bé.
            Sau một năm cầm cự, trước sức tấn công mạnh mẽ của Mã Viện, Hai Bà Trưng phải lui về Cấm Khê (nay thuộc Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Tây). Tại đây, nghĩa quân lấy sông Đáy làm hào ngoài, lấy núi Ba Vì hiểm yếu làm chỗ dựa, lại có khu vực Chửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) làm hậu cứ phía sau. Hai Bà Trưng hi vọng căn cứ Cấm Khê sẽ là cơ sở vững chắc để nghĩa quân xây dựng lực lượng đồng thời là bàn đạp để tổ chức phản công khi có thời cơ.
            Nhưng, một lần nữa, trước sức tấn cống mạnh mẽ của Mã Viện, căn cứ Cấm Khê cũng bị phá vỡ. Hai Bà Trưng hi sinh anh dũng. Cuộc khởi nghĩa đến đây thất bại[9].
            Sau khi Hai Bà Trưng chết, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ. Trong đền, những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt đối không có sơn đỏ. Nhân dân địa phương khi vào thờ cũng không ai dám mặc áo đỏ. Tương truyền rằng Hai Bà Trưng đã chết vì binh đao nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu.
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, đất nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Hán.
            Hai Bà Trưng đứng dậy khởi nghĩa tuy chỉ giành lại độc lập cho đất nước trong một thời gian ngắn ngủi 3 năm (40 - 43) nhưng đó chính là bản anh hùng ca bất diệt cho tinh thần yêu nước, yêu độc lập của dân tộc Việt Nam đầu thời Bắc thuộc. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về hai vị nữ anh hùng của dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị. Tác giả Ngô Thời Sỹ trong “Việt sử tiêu án” đã ca ngợi: “Không gì khó thu phục được là nhân tâm, không gì khó nắm giữa được là quốc thế, lại càng khó nữa là một đàn bà mà tập hợp được cả nhân dân trai tráng làm đồng chí… Trưng Vương là đàn bà góa, búi tóc đứng lên, những con trai trong nước đều cúi đầu chịu Bà chỉ huy, các quan to ở năm mươi thành cũng đều nín hơi, không dám kháng cự… Tiếng tăm hùng dũng của Bà chấn động cả Trung Hoa, cơ nghiệp mở mang của Bà dọc ngang trong trời đất, thật là anh hùng”[10].
            Vua Tự Đức (trị vì 1847 - 1883) khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng đã ngự phê: Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!”[11]         
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một biện tượng hết sức độc đáo trong lịch sử dân tộc. Trong điều kiện khó khăn của một đất nước nông nghiệp, hai thiếu nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ đã đứng lên lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành độc lập, mở đầu cho lịch sử dân tộc đi lên. Các sử gia phong kiến sau này cũng ví công lao ấy của Bà như những người phụ nữ anh hùng vĩ đại của Trung Quốc: “Trong sách Bắc sử về đời Hán, Đường, cũng có vua đàn bà, như họ Lã, họ Vũ, nhưng đều là nhờ thế đã làm mẫu hậu rồi, mà nắm lấy quyền nhân chủ, thì dễ dàng lung lạc được trong nước, múa may với đàn trẻ. Đến như Bà Trưng là một đàn bà bình thường mà khởi lên được thì khó lắm…. Ông vua bị mất nước, hoặc là bị bắt, hoặc là đầu hàng; con gái ở cảnh nhà tan, hoặc phải bỏ đi, hoặc bị tủi nhục. Bà chị mất nước, bà em cũng tuẫn tiết theo chị, không chịu đầu hàng cũng không chịu để bắt, người chồng ở dưới đất được nhắm mắt, kẻ gian tà trông thấy thế phải cúi đầu. Vua tôi Văn Thúc (tướng Hán) không làm gì nổi. Chết rồi mà tiếng thơm vẫn còn… từ Nữ Oa có việc động trời đến giờ, chỉ có hai chị em Bà Trưng nữa thôi đấy”[12].
            Hai Bà Trưng chính là những người đầu tiên viết nên trang sử vẻ vang chống Bắc thuộc của dân tộc, đã đem đến sự hồi sinh cho tinh thần đấu tranh của dân tộc Việt.

Theo: Bách khoa tri thức

HỒ CHÍ MINH (1890 -1969)

Hồi trẻ có tên là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành. Khi hoạt động ở nước ngoài lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh. Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 trong một gia đình trí thức nghèo, gốc nông dân. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và từng ra làm việc cho triều Nguyễn, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì bị cách chức vì có tinh thần yêu nước thương dân nên ông thường có thái độ chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp. Thân mẫu của Người, cụ bà Hoàng Thị Loan là con gái một nhà Nho làm nghề dạy học nên cũng được học ít nhiều; bà tính tình hiền hậu đảm đang, quen việc đồng áng, dệt vải, hết lòng săn sóc chồng, dạy dỗ các con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh và anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp.

Quê hương của Người (làng Kim Liên, quê nội liền kề với làng Hoàng Trù quê ngoại, đều thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong lịch sử dựng nước của dân tộc đây là một địa phương giàu truyền thống đấu tranh gian khổ, chống các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, hết hạn hán với gió Tây gào rú đến bão táp, lũ lụt trắng đồng. Quê hương Nghệ An của Người (nằm trong vùng Nghệ Tĩnh nói chung) cũng là một vùng đất có truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm xuyên qua chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc. Thừa hưởng những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường gia đình và quê hương, ngay từ lúc còn nhỏ. Người đã sớm bộc lộ lòng yêu nước, thương đồng bào.
Người rất khâm phục cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885-1896); phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1904-1908); cuộc vận động cải cách do Phan Châu Trinh khởi xướng (1905-1908); cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (Hà Bắc) do Hoàng Hoa Thám đứng đầu (1885-1913). Nhưng vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đi trước, với ý chí mãnh liệt và quyết tâm sắt đá, năm 1911, Người quyết định vượt biển sang phương Tây - quê hương của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi có nền khoa học và kỹ thuật phát triển, để thực hiện mục đích ham muốn tột bậc của đời mình là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào.
Vốn có tinh thần yêu nước thương dân nồng nàn, gắn bó sâu sắc với những truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương, gia đình, dân tộc; lại có một vốn văn hoá rất cơ bản của phương Đông và phương Tây, thu nhận được qua sự giáo dục gia đình và nhà trường, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành trước khi xuất dương tìm đường cứu nước đã có thời gian học tại các trường học do chính quyền thực dân Pháp mở tại Vinh, Huế nên có điều kiện chủ động và nhanh chóng hòa nhập vào xã hội phương Tây tìm hiểu thấu đáo và thông cảm sâu sắc với cuộc sống các dân tộc bị áp bức từ châu Âu sang châu Á, từ châu Phi đến châu Mỹ. Cuộc khảo sát dài ngày và phong phú đã giúp cho nhận thức của Người về kẻ thù, về tình nhân loại kết hợp với hữu ái giai cấp, về sức mạnh đoàn kết chiến đấu, v.v… vượt qua phạm vi Quốc gia để vươn tới tầm cao thế giới. Đó là nền tảng để Người (từ năm 1919 có tên là Nguyễn Ái Quốc) nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý của thời đại.
Hoạt động đầu tiên có tiếng vang lớn của Người trên đất Pháp là gửi tới Hội nghị Versailles (Vecxay) của các nước đế quốc mới đánh bại Đức trong chiến tranh thế giới I (1914-1918) bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam (ngày 18 tháng 6 năm 1919). Yêu cầu chính đáng trên không được giải quyết làm cho Người thêm nhận rõ: ''Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”.
Chính vào lúc đó, khi phong trào cách mạng của nhân dân Pháp đang dâng cao dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác-Lênin. Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa với những vấn đề đặc biệt quan trọng về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc; về quyền bình đẳng tự do thật sự giữa các dân tộc; về tình đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước v.v... đã làm cho Người vô cùng phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng (1920). Từ đó, Người tin theo Lênin và tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản). Từ một người yêu nước mãnh liệt, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, và là một trong số những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp (1920).
Từ năm 1921 đến 1930, với những hoạt động phong phú và sáng tạo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc v.v... vừa ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng vừa tham gia các hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản; viết sách, báo, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách hệ thống...  Người đã xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách một chiến sĩ cách mạng Quốc tế và là người sáng lập ra chính đảng kiểu mới ở Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thời kỳ hình thành về cơ bản đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-LÊnin vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết hợp đúng đắn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; Người khẳng định cách mạng Việt Nam từ đây coi chủ nghĩa Mác-Lênin là cẩm nang thần kỳ, là kim chỉ nam định hướng, là Mặt trời soi sáng con đường dân tộc Việt Nam đi tới thắng lợi, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ này, Người đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa (1921), trực tiếp thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925); ra báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), báo Thanh niên (1925); viết các tác phẩm Con rồng tre (1922); Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); Đường cách mệnh (1927).
Từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3 - 2 - 1930), trong những năm tiếp theo của thập kỷ 30 đến những năm của thập kỷ 40, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động Cách mạng, có thời gian bị bắt và bị đầy trong nhà lao đế quốc Anh ở Hồng Kông (1931 - 1932), Người vẫn theo dõi sát sao phong trào cách mạng trong nước, kịp thời đóng góp với Trung ương Đảng ở trong nước nhiều ý kiến cụ thể để chỉ đạo thực hiện tốt đường lối của Đảng ngày 8 tháng Hai 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người trở về Tổ quốc. Chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Trung ương Đảng điều chỉnh chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc là trên hết, tạm thời gác lại nhiệm vụ cách mạng ruộng đất; thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) vào ngày 19 tháng 5 năm 1941. Bằng tầm cao trí tuệ, với hoạt động đổi mới và sáng tạo Người đã vận dụng thành công học thuyết Mác-Lênin về Vấn đề dân tộc và thuộc địa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng 10 Nga rung chuyển địa cầu (1917) đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng 8 (1945) có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Người khẳng định: “Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam mà cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa.
Trong thời gian chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức để tiến tới Cách mạng tháng Tám, Người đã lược dịch cuốn Lịch sử Đảng cộng sản Bolshevik Liên Xô; biên soạn một số tài liệu như Cách đánh du kích, cách huấn luyện cán bộ quân sự, ra báo Việt Nam đọc lập (Tên gọi tắt là Việt Lập). Người cũng đã chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang ở Cao Bằng.
Tháng 8 - 1942, với tên gọi là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam bên đó và lực lượng của Đồng minh vừa qua biên giới, Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch vô cớ bắt giam hơn một năm, giải tới giải lui qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong hoàn cảnh đó, Người đã viết tập thơ chữ Hán Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù), một tác phẩm lịch sử và văn học vô giá, khẳng định tinh thần bất khuất lạc quan cách mạng và ý chí cách mạng tiến công của một nhà yêu nước vĩ đại, của một người cộng sản vĩ đại.
Thất bại trong âm mưu sát hại người chiến sĩ cách mạng kiên cường, chính quyền Tưởng phải trả lại tự do cho Người (tháng Chín 1943). Chưa có điều kiện về nước Người đã tranh thủ thời gian tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Trung Quốc, đồng thời chắp lại liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước. Tháng 7 năm 1944, Người về đến Pắc Pó (Cao Bằng) sau đó về Tân Trào (Tuyên Quang) trực tiếp lãnh đạo cách mạng đưa tới thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Nhưng sau ngày Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945) tình hình nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc, vì giặc đói giặc dốt, giặc ngoại xâm. Theo lời kêu gọi của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu trở lại đời nô lệ” đã vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Với tinh thần Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; Thành công, thành công đại thành công. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng do Hồ chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu (1954). Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ tượng trưng cho lòng dũng cảm, quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong cuộc đấu tranh tự giải phóng giành độc lập tự do của các dân tộc thuộc địa. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi, giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.
Hồ Chí Minh là linh hồn hai cuộc kháng chiến cứu nước của toàn dân tộc, Người đã chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh chính nghĩa của thời đại và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nhằm tạo lên sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh thắng bọn xâm lược. Đó chính là quy luật của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.
Đặc trưng tư tưởng Hồ Chí Minh là kết hợp nhuần nhuyễn triết học phương Đông với triết học phương Tây, nắm vững nền văn hóa dân tộc và tiếp thu một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Hồ Chí Minh trở thành một biểu tượng và một hiện thực của sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải thể chế độ thực dân trên phạm vi toàn thế giới; đồng thời cũng là biểu tượng và hiện thực cho những lý tưởng - khát vọng: độc lập cho mỗi dân tộc; tự do cho mỗi người; hạnh phúc cho nhân dân mỗi nước. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân dân hai miền Nam - Bắc tiếp tục cuộc đấu tranh để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà. Sớm phát hiện đúng đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa[1]; Người đã lãnh đạo khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa, từng bước vững chắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Hồ Chí Minh là người đầu tiên vạch ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và phác thảo mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc[2]. Nêu cao tư tưởng đạo đức; trung với nước, hiếu với dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, Người đã trở thành một mẫu mực đạo đức không riêng cho nhân dân Việt Nam, mà cho cả nhân loại yêu chuộng hòa bình, tiến bộ. Nhà sử học Mỹ J.Stenson đánh giá: "Thế giới đang đứng trước thảm họa tha hóa về vật chất, con người đang bị đẩy vào cuộc sống tiện nghi tối đa xa dần cuộc sống thiên nhiên, xa cuộc sống giữa người với người, không cần sống có đạo đức thì Người không tha hóa về vật chất, không mang tiếng về đời tư...Một số đông người đã tha hóa chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống, nhân loại lại tìm về tấm gương sáng ngời nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp sau[3].
Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đào luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Chiến lược trồng người cùng với việc chăm lo cho một Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước vững mạnh của dân, do dân, vì dân thể hiện khát vọng dân giàu nước mạnh xã hội văn minh của Người.
Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tiếc rằng Người không còn sống đến ngày thắng lợi, nhưng xét về mặt lịch sử, Người là kiến trúc sư của thắng lợi đó Người dành nhiều công sức vun đắp phát triển tình hữu nghị, đoàn kết nhân loại tiến bộ nhằm biến những khát vọng của các dân tộc được làm chủ vận mệnh mình trở thành hiện thực, đồng thời khẳng định được bản sắc dân tộc của mình trong sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân đã tác động và thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới tiến lên phía trước trong quá trình phát triển của nhân loại. Người là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một danh nhân văn hóa[4]. Cống hiến to lớn, nhiều mặt của Người đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tầm nhìn của nhân loại tiến bộ, tư tưởng, đạo đức, tư tưởng văn hóa và nhân văn của Người để lại những dấu ấn không thể phai mờ. Tư tưởng ''Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý của thời đại, ngọn cờ chiến đấu của các dân tộc bị áp bức. Phieng Sisulat (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) khẳng định:
''Không có gì quý hơn độc lập tự do!
Một câu nói giản dị, ngắn gọn đã trở thành một câu danh ngôn mang những âm vang cộng hưởng không chỉ bó hẹp trong đất nước, con người Việt Nam mà còn là lý tưởng đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức bóc lột và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”[5].
Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh trở thành niềm tự hào chung của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Bà Marcela Lombardo - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu triết học chính trị và xã hội Mexico nhận định: ''Hồ Chí Minh đã tham gia và thúc đẩy... sự nghiệp vì hòa bình. Và như một nhà văn hóa, Người đã tham gia vào sự phát triển và truyền bá văn hóa, nhận thức được văn hóa như một kho tàng kiến thức của con người về thiên nhiên, cuộc sống, cũng như để đánh giá về sự tồn tại, mà giá trị của nó có thể tăng cường lòng tin vào tính hoàn thiện không ngừng của con người[6].
Trên mạch suy nghĩ đó đi tới một khẳng định: “… Những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những giấc mơ của mình''[7]. Và dễ hiểu là ở giữa cơn khủng hoảng về chính trị, đạo đức, người ta lại tìm về Hồ Chí Minh vì ''Người đã để lại dấu ấn không thể sai lầm của mình để được tiếp tục theo đuổi trong các đảo lộn nhiều biến động, như Santi Mauroy (Giáo sư sử học Ấn Độ) đã khẳng định''.

Hồ Chí Minh đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng nhân loại, trên con đường vươn tới sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người và của mọi người, đã tìm thấy trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh một giá trị trường tồn. Đúng như ý kiến của nhà văn Úc Allan Asbolt: "Nếu chúng ta muốn đối phó một cách hợp lý và mạnh mẽ với những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội đang gặp phải, chúng ta phải học ở Hồ Chí Minh bằng cách phát triển những phẩm chất đã thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của Người: Kiên nhẫn và vững vàng theo đuổi mục đích và bình tĩnh trong những lúc khó khăn; linh hoạt về tư duy và chính trị khi xây dựng khối đoàn kết xã hội chủ nghĩa; khiêm tốn và gần gũi với nhân dân, nhất là với công nhân và nông dân; có sự đồng cảm để đạt tới sự hòa giải dân tộc, có tinh thần Quốc tế mạnh mẽ; sự sáng tạo và nhạy bén về văn hóa, một sự hiểu biết có phân tích về lịch sử, đặc biệt là về cách thức mà những biến đổi lịch sử đã diễn ra; và phẩm chất mà Hồ Chí Minh có một cách dồi dào - đó là sự lạc quan của ý chí”[8].

NGUYÊN TRÃI (1380 - 1442)

Tên hiệu là Ức Trai, vốn người xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) sau rời về Nhị Khê, châu Thượng Phúc, Lộ Đông Đô (nay thuộc tỉnh Hà Tây); xuất thân từ một gia đình quý tộc. Là con Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, nhà văn xuất sắc thời Trần - Hồ, là cháu ngoại Trần Nguyên Đán, nhà thơ lớn và Tể tướng cuối triều Trần. Nguyễn Trãi là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam với tư cách là nhà văn, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà tư tưởng, nhà sử học và địa lý học... Về hoạt động xã hội, ông đã tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống quân Minh, đồng thời cũng là bậc khai quốc công thần, một lòng đắp xây Vương triều Lê trong buổi ban đầu. Thảm án Lệ Chi Viên oan khiên chu di tam tộc mà Nguyễn Trãi gánh chịu, chính là hệ quả khôn lường của tấm lòng ngay thẳng; của thái độ tận tụy, nói thẳng nói thật, và cuối cùng lịch sử đã chứng minh nỗi oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng ức Trai sáng như sao Khuê - Lê Thánh Tông), được tôn là bậc thi bá (Nguyễn Mộng Tuân); là người viết thư thảo hịch, tài giỏi hơn hết một thời, văn chương gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế (Lê Quý Đôn); là sông Giang sông Hán trong các dòng sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các vì sao (Tô Thế Nghi); viết nên áng hùng văn có khí lực dồi dào... đọc không biết chán (Phạm Đình Hồ); rõ ràng và trong sáng trong khoảng trời đất (Dương Bá Cung)...

Gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, trên cương vị Tuyên phụng đại phu, Hàn lâm thừa chỉ Nguyễn Trãi đã có tập thơ binh vận - luận chiến nổi tiếng: Quân trung từ mệnh tập sử dụng đao bút như một thứ vũ khí lợi hại, góp phần làm suy yếu tinh thần quân địch. Sau chiến thắng năm 1428, Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô đại cáo được coi là áng Thiên cổ hùng văn; viết tiếp Phú Núi Chí Linh Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi nêu bật công tích của Lê Lợi trong sự nghiệp cứu nước. Về sáng tác thơ, các tập thơ của ông hầu như được viết trong thời gian sau chiến tranh. Tập thơ Ức Trai thi tập bằng chữ Hán bao gồm 105 bài nằm trong dòng chảy thơ Đường truyền thống và trong hệ quy chiếu của mỹ học phong kiến. Riêng với Quốc âm thi tập bằng chữ Nôm gồm 254 bài, có thể coi Nguyễn Trãi là người chính thức khởi đầu bằng một tập đại thành thơ quốc âm, mở ra cả một dòng chảy lớn trong nền thơ ca dân tộc. Hơn thế nữa, Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là sự phá cách cách tân, khắc phục khuynh hướng quy phạm, mở rộng cảm quan sáng tác thi ca, đặc biệt trong cách diễn tả Thế giới thiên nhiên và nội tâm con người bằng ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc.
Cũng vào thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Trãi đã được ban họ Vua và tước quan Phục hầu, được giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư, tiếp tục thay Vua soạn thảo nhiều chế, chiếu ban bố trong nước, và các thư biểu bang giao với nhà Minh. Ngoài ra, ông còn biên soạn bộ sách Dư địa chí Luật thư, nêu ý kiến tranh luận về luật hình, âm nhạc, văn hiến dân tộc. Tóm lại, Nguyễn Trãi đã trở thành hiện thân cho bước chuyển thời đại từ Phật giáo Lý – Trần sang Nho giáo; người đặt nền móng tư tưởng – văn học nghệ thuật cho thời đại Nho giáo thịnh trị, đặc biệt trong buổi đầu còn le lói ánh sáng hào quang của tinh thần Phục Hưng và ý nghĩa nhân văn. Đánh giá những đóng góp xuất sắc, đa dạng của Nguyễn Trãi đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và sự phát triển những giá trị nhân văn, nhân loại; năm 1980, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận ông là Danh nhân văn hóa và được kỷ niệm trên toàn thế giới.

Gia Cát Lượng - Khổng Minh (181 - 234)

Từ xưa đến nay, trong dân gian, người ta đã thần thánh hóa nghệ thuật chỉ huy của Gia Cát Lượng, coi đó là hiện thân của trí tuệ. Cuộc đời chinh chiến mang đầy tính huyền thoại của ông đã cho thấy ông đúng là một nhà quân sự lỗi lạc. Không ít các nhà quân sự nổi tiếng sau này đã thành công khi vận dụng một  cách sáng tạo nghệ thuật quân sự của ông. Ông là người đã kế thừa và phát triển được binh pháp cổ dại và xây dựng thành một hệ thống quân sự khá độc đáo.


Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh sinh năm 181 ở huyện Đô, quận Lang Nha (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Vì bố mẹ mất sớm, nên từ nhỏ  Gia Cát Lượng đã đi theo người chú làm quan là Gia Cát Huyền sinh sống ở Dự Dương (nay là Nam Xương, Giang Tây) và Kinh Châu. Năm 197, Gia Cát  Huyền chết. Lúc đó, Gia Cát Lượng bước sang tuổi 17, bắt đầu bước vào cuộc sống tự lập, ông dựng mấy ngôi nhà tranh ở Long Chung, huyện Đặng, quận Nam Dương (nay là chỗ cách thành phố Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc khoảng 20  dặm) và sống ẩn dật ở đó 10 năm, tự cày ruộng để sinh sống, người ta kính trọng gọi ông là ''Ngọa Long tiên sinh''.
Mùa đông năm 207, nhờ Từ Thứ và Tư Mã Huy tiến cử Lưu Bị ở tuổi 47 lặn lội qua gió rét tìm đến tận Long Trung để gặp Gia Cát Lượng.
Hai lần đầu đến đều không gặp, lần thứ ba Lưu Bị mới gặp được Gia Cát  Lượng. Tận mắt thấy Lưu Bị là một người trọng hiền đãi sĩ, lại hết mức chân  thành, ông đã đồng ý giúp Lưu Bị khôi phục lại nhà Hán.
Đầu tiên, Gia Cát Lượng phân tích cặn kẽ tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, địa lý, con người... trong nước lúc đó, rồi phác thảo ra chiến lược phục hưng cơ nghiệp nhà Hán. Đoạn nói chuyện, được sử sách ghi chép lại dưới tựa đề nổi tiếng là ''Cuộc đối thoại ở Long Trung'', Gia Cát Lượng chỉ ra rằng: nếu như chiếm được Kinh Châu và Ích Châu, dựa vào thế hiểm yếu để cố thủ, đồng thời xây dựng mối quan hệ hữu hảo với các dân tộc thiểu số ở miền Tây; đối với  các dân tộc thiểu số ở miền Nam thì áp dụng chính sách động viên vỗ về. Về  mặt đối ngoại thì liên kết đồng minh với Tôn Quyền; về đối nội thì thực hành cải  cách chính trị, tích cực xây dựng lực lượng. Khi nào thời cơ cho phép, thì cử  một viên đại tướng tài năng và mẫn cán đem quân Kinh Châu sang đánh lấy Uyển Thành (nay là Nam Dương, tỉnh Hà Nam) và Lạc Dương mưu đồ giành lấy Trung Nguyên, còn Lưu Bị thì tự minh đem quân ích Châu đánh lấy Tần Châu nay là vùng Thiểm Tây, Cam Túc) tiến lên chiếm Tràng An. Đến lúc đó,  dân chúng ai cũng đem cơm trắng, rượu ngon để đón tiếp. Nếu thực hiện được việc đó thì việc lớn của Lưu Bị chắc sẽ thành công, cơ đồ nhà Hán sẽ được khôi phục.
Nhằm thực hiện kế hoạch to lớn đó, xuất phát từ tình hình thực tế, Gia Cát Lượng còn phân tích thêm về các thế lực cát cứ và so sánh lực lượng giữa các thế lực đó cũng như quan hệ đối kháng với nhau, rồi đề nghị với Lưu Bị thực hiện ba bướu trong kế hoạch chiến lược. Một là, tiêu diệt các thế lực yếu kém như: Lưu Biểu, Lưu Trương để chiếm Kinh Châu, ích Châu xây dựng thành căn cứ địa, hình thành thế chân vạc với Tào Tháo, Tôn Quyền. Hai là, cải thiện mối quan hệ với các dân tộc thiểu số, tiến hành cải cách chính trị, ổn định nội bộ,  tích trữ lực lượng, kết giao với Tôn Quyền để cô lập Tào Tháo, chờ đợi thời cơ. Ba là, nắm bắt thời cơ có lợi nhất, chia binh thành hai ngả, tiến lên phía Bắc đánh Ngụy, hoàn thành nhiệm vụ thống nhất. Kế hoạch chiến lược với tầm nhìn xa rộng cho thấy Gia Cát Lượng tuy tuổi còn trẻ nhưng đã có tầm nhìn của một nhà chiến lược lỗi lạc.
Ông đã giúp Lưu Bị phát triển quân đội, dùng kế lấy được Kinh Châu. Khi Tào Tháo đem đại quân Nam thành, Lưu Bị đã bị thua to ở dốc Trường Bản, Gia Cát Lượng tự mình đi sứ sang Đông Ngô để thuyết phục Tôn Quyền liên kết chống Tào và giành được thắng lợi vang dội ở trận Xích Bích. Ông hỗ trợ Lưu Bị mở rộng hầu hết địa bàn Kinh Châu, sau đó giành được Ích Châu, tạo thành thế cát cứ ba chiều hình chân vạc, bước đầu thực hiện được giai đoạn 1 của kế hoạch được nêu ra trong cuộc đối thoại ở Long Trung.
Sau khi Lưu Bị ốm chết, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá hậu chúa Lưu Thiền mới có 17 tuổi. Với chức danh thừa tướng ông gánh vác trọng trách trị vì Thục Hán, tiếp tục phấn đấu cho mục tiêu thống nhất thiên hạ nhà Đại Hán.
Năm 223, Gia Cát Lượng bắt tay vào thực hiện bước 2 của kế hoạch chiến lược. Một mặt, ông cử Đặng Chi sang làm sứ giả ở Đông Ngô, khôi phục lại mối quan hệ đồng minh với Tôn Quyền. Đồng thời chấn chỉnh nền chính trị trong nước, ổn định nội bộ, dự trữ lương thực, chuẩn bị kĩ lưỡng cho cuộc chiến Bắc phạt. Đúng lúc đó ở Nam Trung (nay thuộc huyện miền Nam Tứ Xuyên, miền Đông Vân Nam và miền Tây Bắc Quý Châu) xảy ra cuộc phản loạn vũ  trang ở quận ích Châu (nay thuộc Tấn Ninh, Vân Nam) của bọn địa chủ do Ung Khải cầm đầu, họ đã giết chết quan Thái thú do Thục Hán bổ nhiệm. Tiếp đó, lại  nổ ra hai cuộc nổi loạn khác để hưởng ứng, đó là cuộc khởi nghĩa của Chu Bảo ở Hoàng Bình - Quý Châu và Cao Định ở Tây Xương - Tứ Xuyên. Ung Khải sai  Mạnh Hoạch tiến hành tuyên truyền xuyên tạc trong đồng bào thiểu số ở vùng Nam Trung. Do Mạnh Hoạch kích động nên phong trào chống đối ngày càng mạnh mẽ, đội ngũ ngày càng đông đảo chẳng bao lâu đã lan truyền khắp vùng  Nam Trung .
Sau khi xảy ra phản loạn, đầu tiên Gia Cát Lượng áp dụng chính sách an ủi vỗ về không thảo phạt, tức là giải quyết bằng phương thức hòa bình. Tuy nhiên, Ung Khải lại cho rằng chính quyền Thục Hán nhu nhược, yếu đuối, có thể lấn tới được nên y càng quậy phá mạnh hơn. Vì vậy muốn ổn định hậu phương, nhằm thực hiện việc lớn là Bắc phạt, Gia Cát Lượng quyết tự mình đem quân  xuống phía Nam.
Đầu năm 225, Gia Cát Lượng sai Mã Trung chỉ huy cánh quân phía Đông, đi từ Nghi Tân xuống phía Đông Nam để đánh Chu Bảo; cử Lý Khôi  đang đóng quân tại Bình Dị nay là huyện Tất Tiết, tỉnh Quý Châu) đem binh mã dưới quyền làm cánh quân trung lộ đánh vào quận ích Châu, nhằm bao vây bọn Ung Khải. Còn Gia Cát Lượng đích thân dẫn quân chủ lực đi theo hướng Tây, trước hết đánh Cao Định, sau đó sẽ hợp với hai cánh quân và tập trung đánh Ung Khải, dập tắt cuộc bạo loạn. Cánh quân phía Tây dưới sự chỉ huy của Gia Cát Lượng xuất phát từ An Thượng (nay thuộc Bình Sơn - Tứ Xuyên) tiến vào vùng nổi loạn. Cao Định đã cho quân đào hào đắp luỹ phòng thủ tại Hán Nguyên, Diêm, Nguyên, Chiêu Giác... Gia Cát Lượng cố ý chần chừ không tiến quân. Khi Cao Định tập trung quân từ các nơi về một chỗ, Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân phản loạn, giết chết Cao Định. Trong lúc đó, cánh quân phía Đông của Mã Trung cũng đánh bại Chu Bảo, giải  quyết cơ bản cuộc bạo loạn ở hai phía Đông và Tây. Gia Cát Lượng chỉ huy cả ba cánh quân thừa thắng truy kích, thọc thẳng vào hang phản loạn của Ung Khải  ở Ích Châu.
Tháng 5, đạo quân của Gia Cát Lượng hành quân qua vùng rừng núi hiểm trở, vượt qua sông Kim Sa, đến gần được quận Ích Châu. Lúc đó Ung Khải đã bị thuộc hạ của Cao Định giết chết. Mạnh Hoạch thế chân Ung Khải làm thủ lĩnh quân phản loạn. Nhận thấy uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của Mạnh Hoạch ở vùng Nam Trung, vì muốn giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu  số vùng này với triều đình Thục Hán, với mục đích tạo được sự ổn định lâu dài và chắc chắn cho vùng Nam Trung, nên Gia Cát Lượng quyết định đánh vào lòng người của Mạnh Hoạch, coi đó là chiến thuật chủ đạo. Gia Cát Lượng hạ lệnh đánh nhau với Mạnh Hoạch, quân Thục chỉ được phép bắt sống, không được giết chết hoặc làm bị thương.
Trận đầu giao tranh, quả nhiên Mạnh Hoạch bị bắt sống, Gia Cát Lượng không giết, không làm nhục mà còn khoản đãi, nhằm làm cho Mạnh Hoạch chịu hàng phục.
Gia Cát Lượng tha cho Mạnh Hoạch về. Mạnh Hoạch tập hợp lực lượng giao tranh lần nữa, nhưng vẫn thua và bị quân Thục bắt sống. Lần này, Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu phục. Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra, cứ như vậy lặp đi lặp lại đến 7 lần. Cuối cùng, Mạnh Hoạch nhận thấy Gia Cát Lượng quả thật là con người mưu lược phi thường, và trong thâm tâm không có ý định thù địch với mình nên đã chịu phục. Sau khi Mạnh Hoạch chịu thần phục thì các thế lực phản loạn ở miền Nam cũng nhanh chóng lần lượt quy hàng.
Sau khi ổn định được khu vực Tây Nam, Gia Cát Lượng bắt đầu suy tính đến kế hoạch Bắc phạt Tào Nguy, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước Trung Quốc, đó cũng là ý tướng ấp ủ từ lâu của Gia Cát Lượng. Mùa xuân năm 228, Gia Cát Lượng thống lĩnh 10 vạn đại quân xuất phát từ Hán Trung đi về  hướng Bắc để chinh phạt Nguỵ. Gia Cát Lượng quyết định xuất quân ở Kỳ Sơn, trận đầu đánh chiếm Lũng Hữu (nay thuộc Cam Túc), trận tiếp theo sẽ đánh chiếm Quan Trung, đánh chắc thắng chắc. Ông cho loan tin đại quân Gia Cát Lượng sắp sửa theo hướng hẻm Tà Cốc để đánh vào Mỹ Thành; cử Triệu Vân, Đặng Ngải đem một bộ phận binh lực đi chiếm Kỳ Cốc (nay thuộc địa bàn huyện Thái Bạch, tỉnh Thiểm Tây) và làm ra vẻ như muốn đi theo đường Tà Cốc để tiến lên phía Bắc, nhằm thu hút sự chú ý của quân Tào, trong khi đó Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân chủ lực tiến theo đường Kỳ Sơn về hướng Tây Bắc.
Quân Tào ở nước Nguỵ không thể ngờ rằng Thục Hán nhỏ bé lại dám đánh Ngụy, nên ở phía Lũng Hữu không hề bố trí quân đội phòng ngự. Quân Thục qua nhiều năm được Gia Cát Lượng dày công huấn luyện đã trở thành một đạo quân hùng hậu dũng mãnh, hiệu lệnh rất nghiêm minh, xuất quân từ Kỳ Sơn, như thế chẻ tre, nhanh chóng chiếm được ba quận đường đất Lũng Hữu là Thiên Thuỷ, An Nam, An Định, dụ hàng được danh tướng Ngụy là Khương  Duy, gây xôn xao cả một miền Quang Trung. Ngụy Minh Đế Tào Duệ nghe tin  thất kinh, lập tức sai tướng Tào Chân đem quân đi chi viện cho My Thành, nhằm ngăn chặn Triệu Vân, lại sai tướng Trương Hợp dẫn 50.000 kỵ binh và bộ binh  tiến nhanh đến Nhai Đình, vòng đằng sau đánh tập hậu vào quân Thục, hòng chiếm lại Lũng Hữu. Tào Duệ cũng tự mình đến Tràng An để chỉ huy tác chiến.
Gia Cát Lượng đang có ý đánh chiếm hai quận Quảng Ngụy và Lũng Tây để chiếm trọn cả vùng Lũng Hữu, bỗng nghe tin đại quân của Trương Hợp đang vòng đánh từ hướng Tây. Nhằm đảm bảo an toàn hai bên sườn, để phát triển cuộc tấn công, Gia Cát Lượng lập tức hạ lệnh cho tiên phong Mã Tốc đem tiền quân đánh gấp, lấy Nhai Đình. Nhai Đình nằm ở khoảng giữa sông Vị và núi Mạch Tích – đó chính là con đường huyết mạch để đi từ Thiểm vào Lũng. Trước khi đi, Gia Cát Lượng năm lần bảy lượt dặn dò Mã Tốc hãy cẩn trọng. Không ngờ Mã Tốc tự cho mình là thông minh, dám vi phạm phương án bố trí của Gia Cát Lượng, đưa đến hậu quả Nhai Đình bị thất thủ, làm cho Gia Cát Lượng mất  bàn đạp tấn công, lỡ mất cơ hội đánh chiếm Lũng Hữu. Xét tình hình thực tế, Gia Cát Lượng cho rằng quân Thục không thể tiếp tục giao chiến được nữa, ông quyết định thu quân trở về Hán Trung.
Sau khi về đến Hán Trung để giữ nghiêm kỷ luật, Gia Cát Lượng, cho chém Mã Tốc, đồng thời viết tờ tấu dâng lên Lưu Thiền xin hạ tước vị của mình xuống ba bậc, và công bố sai lầm của bản thân mình cho cả nước được biết, làm gương cho mọi người tự vạch khuyết điểm của mình.
Tháng 12 năm đó, nhân cơ hội Lục Tốn ở Đông Ngô đánh bại quân Tào Hữu ở Thạch Bình (nay thuộc vùng Đông Bắc Tiềm Sơn, tỉnh An Huy); quân chủ lực phải chi viện cho mặt trận phía Đông; vùng Quang Trung tương đối trống vắng, Gia Cát Lượng liền tổ chức cuộc Bắc phạt lần thứ hai. Quân Thục đi qua Tán Quan (nay thuộc vùng Tây Nam Bảo Kê - Thiểm Tây) hành quân đến Trần Thương (nay ở phía Đông Bảo Kê). Địa thế ở Trần Thương vô cùng hiểm trở, dễ giữ khó đánh, được coi là nơi các nhà quân sự phải chiếm bằng được. Trước đó Tào Chân đã cho Hách Chiêu tăng cường phòng bị. Gia Cát Lượng chỉ  huy quân đội đánh ròng rã hai mươi ngày mà không suy suyển, lại thêm lương thảo quân Thục dần cạn kiệt. Về phía quân Ngụy thì đại tướng Trương Hợp dẫn viện binh vừa đến, do đó Gia Cát Lượng chủ động dỡ bỏ vòng vây.
Mùa xuân năm 229, Gia Cát Lượng phát động chiến dịch Bắc phạt lần thứ ba, trận đầu chiếm được hai quận là Vũ Đô (thủ phủ ở vùng phía Tây Bắc, huyện Thành, tỉnh Cam Túc) và quận Dương Bình (Thủ Phủ ở phía Tây Bắc, huyện Văn, tỉnh Cam Túc) thuộc đất Lũng Hữu, sau đó thừa thế thu quân. Do lập công trong chiến dịch chiếm hai quận này, nên Lưu Thiền đã phục chức Thừa tướng cho Gia Cát Lượng.
Tháng 2.231, Gia Cát Lượng lại thống lĩnh đại binh xuất quân từ Kỳ Sơn, tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ tư. Mục tiêu lần này vẫn là chiếm đất Lũng Hữu, nhưng tiền đồn để xuất quân đẩy lên Vũ Đô, Bình Dương. Ông phái một cánh quân vây khốn Kỳ Sơn và tự mình chỉ huy chủ lực chuẩn bị giao tranh một trận sống mái với cánh quân tăng viện của nước Nguỵ. Lúc này, người thống soái quân Ngụy được đã chuyển sang cho vị tướng tài ba giỏi dùng binh pháp là Tư Mã Ý. Tư Mã Ý nghĩ rằng quân Thục lương thảo ít, dễ đánh lâu dài, nên dựa  vào thế đất hiểm yếu để cố thủ, không chịu ra đánh. Gia Cát Lượng chờ mãi không được, đành dẫn quân rút lui về phía Kỳ Sơn, nhằm lôi kéo quân Ngụy ra ngoài để đánh. Tư Mã Ý cho quân đuổi theo rất thận trọng, khi quân Thục dừng lại, họ cũng dừng lại không đuổi nữa, tuy nhiên họ chỉ cắm trại cố thủ.
Đến tháng 6 do trời mưa to hết ngày này sang ngày khác, việc vận lương thực rất khó khăn. Tướng phụ trách việc vận lượng là Lý Nghiêm giả mạo chiếu thiên tử lệnh cho Gia Cát Lượng lui binh. Gia Cát Lượng đành chấp nhận rút quân, trên đường rút lui còn gài bẫy, chém được danh tướng nước Ngụy dẫn quân đuổi theo là Trương Hợp.
Mùa xuân năm 234, sau mấy năm chuẩn bị, Gia Cát Lượng lại dẫn 100.000 đại binh tiến theo đường Tà Cốc, mở đầu cuộc chiến tranh Bắc phạt lần thứ năm, mặt khác sai sứ thần sang hẹn với Tôn Quyền cùng tấn công. Tháng 4, quân Thục hành quân đến huyện My. Lúc này, quân Ngụy do Tư Mã Ý thống lĩnh đã đến bờ Nam sông Vị Thuỷ. Tư Mã Ý đã khai thác thế yếu của quân Thục mới hành quân từ xa, đến, vận chuyển lương thực khó khăn, quyết định thủ để  công, nhờ yếu tố thời gian làm cho quân Thục phải tan rã.
Quân Nguỵ kiên quyết cố thủ không đánh, đã đưa Gia Cát Lượng vào tình thế giằng co, không thể tiến triển được.
Tháng 7, đội quân do Tôn Quyền chỉ huy sang đánh Ngụy lại bị thất bại lui về Giang Đông. Tháng 8, do vất vả mệt nhọc lâu ngày mà sinh bệnh, Gia Cát Lượng không may ốm chết trong doanh trại Ngũ Trượng Nguyên, chỉ thọ 54  tuổi.
Theo đánh giá chung, cuộc đời binh nghiệp của Gia Cát Lượng rất phong phú, đa dạng. Ông đã để lại di sản quy báu về tư liệu, kiến thức quân sự cho đời sau. Ông kiên trì dùng quân pháp để xây dựng và chỉ huy quân đội. Ông cho rằng thưởng phạt nghiêm minh, giữ nghiêm kỉ luật là yếu tố tạo ra sức mạnh. Nếu kỷ luật không nghiêm, thưởng phạt không phân minh, thì cho dù quân đông đến hàng trăm vạn cũng không thể chiến thắng được kẻ thù. Gia Cát Lượng chú ý áp dụng những kỹ thuật sản xuất tiên tiến để phục vụ cho chiến tranh. Ông  phát minh và phổ biến ''con trâu gỗ'' (là loại xe đẩy bằng gỗ có bốn chân và một  bánh) xe ngựa (loại xe bằng gỗ, có người đẩy, bốn bánh) giải quyết được vấn đề vận tải lương thực ở miền núi. Khổng Minh rất coi trọng khâu cải tiến trang thiết bị, phát minh ra loại cung liên hoàn kiểu mới, một lần bắn được mười mũi tên,  đáng kể là bát trận đồ của ông còn gọi là ''bát trận pháp'', được người đời sau rất coi trọng. Ngoài ra, Gia Cát Lượng còn để lại nhiều câu danh ngôn về bình luận quân sự. Ví dụ trong cuốn Binh yếu, ông nói: “Nguyên tắc dùng binh, trước hết  phải xác định mưu kế, sau đó quán triệt phương án thực hành. Cần tìm hiểu tình hình thiên thời, địa lợi, quan sát lòng người, thông thạo sử dụng vũ khí, vạch rõ nguyên tắc thưởng phạt, nghiên cứu sách lược của đối phương, xem xét địa thế  đường sá, nhận biết địa hình có lợi và bất lợi, phán đoán tương quan lực lượng đách - ta, hiểu rõ thời cơ tiến thoái, biết chọn đúng thời cơ tác chiến, làm tốt công tác chuẩn bị phòng ngự. Tăng cường sức mạnh, nâng cao bản lĩnh chiến sĩ, đúc rút bài học thắng bại, cân nhắc cái giá của sự sống và cái chết. Sau đó mới quyết định điều binh khiển tướng, cắt cử tướng lĩnh, nhằm tạo nên thế trận diệt  thù. Đó chính là yếu lĩnh cầm quân đánh giặc”.

Lincoln (1805 - 1865)

Người ta biết đến ông như một tấm gương sáng về sự vượt khó; một người đã cống hiến không biết mệt mỏi cho cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ và đặc biệt là đã đem lại sự vẹn toàn cho Liên bang Hoa Kỳ khi cuộc nội chiến Nam Bắc xảy ra. Với những thành quả đó, nhân dân Mỹ cũng như triệu triệu người trên thế giới đã tôn vinh ông là vị tổng thống vĩ đại nhất trong mọi thời đại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.


Ngày 12.2.1809 Abraham Lincoln - Tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ đã cất tiếng khóc chào đời trong một căn nhà tồi tàn tại hạt Hardin, bang Kentucky. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, bố làm thợ mộc, mẹ là một người phụ nữ thông minh nhưng do hoàn cảnh gia đình mà không được đi học. Chính những điều đó đã thôi thúc Abraham Lincoln ngay từ nhỏ đã chăm chỉ học hành và say mê đọc sách báo. Người ta kể rằng, ông đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần bộ Kinh thánh và những câu chuyện của Acsop (một tác gia La Mã cổ đại). Năm ông lên 9 tuổi mẹ ông đột ngột qua đời. Sự kiện này càng thôi thúc ông phấn đấu để tự lập cũng như giúp đỡ gia đình vượt qua cơn khốn khó.

Trước khi trở thành luật sư, chính khách và cuối cùng là ứng cử viên tổng thống của Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ, Abraham Lincoln đã làm rất nhiều nghề khác nhau, và những công việc đó đã tạo nên những phẩm chất của một vĩ nhân của nước Mỹ sau này.
Năm 1830, Lincoln thoát ly gia đình đến New Salem làm nhân viên phục vụ trong một cửa hàng tổng hợp, lúc đó Abraham Lincoln vừa tròn 21 tuổi. Hai năm sau, năm 1832, theo lời kêu gọi của thống đốc bang, Lincoln gia nhập quân ngũ và nhanh chóng trở thành chỉ huy của đội quân tình nguyện này. Năm 1833, ông được đích thân tổng thống Andrew Johnson bổ nhiệm làm giám đốc bưu điện New Salem, bang Illinois và một năm sau ông trở thành thành viên của cơ quan lập pháp bang Illinois. Sau khi lập gia đình vào năm 1842 với Mary Todd con gái của một gia đình quyền quý, Lincoln có điều kiện hơn để tiếp tục phấn đấu cho những mục tiêu trên con đường chính trị của mình.
Khi trở thành hạ nghị sĩ năm 1845 với khẩu hiệu đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ ông đã tham gia vận động tranh cử tổng thống. Từ những nỗ lực không ngừng đó ông được bầu là ứng cử viên chức thượng nghị sĩ tại Đại hội của Đảng Cộng hoà tổ chức ở bang Illinois. Ngày 17.6.1858 Lincoln đã đọc một bài diễn văn nổi tiếng trong đó ông lên án mạnh mẽ và kêu gọi xoá bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ.
Sau những cố gắng không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh đòi xoá bỏ chế độ nô lệ ông đã đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1861 - 1864. Mặc dù không phải là người đầu tiên xoá bỏ chế độ nô lệ, bởi vì trước khi ông lên nắm quyền, có nhiều quốc gia đã tiến hành xoá bỏ chế độ này và đạt được kết quả tốt, nhưng Lincoln vẫn tạo được tiếng vang lớn vì ông đã phát động được phong trào này một cách mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên điểm nhấn trong sự nghiệp của lãnh đạo đất nước của ông - thể hiện tài năng chính trị siêu việt của ông chính là việc ông đã lãnh đạo đất nước thành công trong việc chống lại âm mưu ly khai một số bang phía Nam khỏi liên bang Hoa Kỳ.
Cuộc nội chiến giữa các bang miền Bắc và các bang miền Nam Hoa Kỳ mà lịch sử vẫn gọi là cuộc chiến tranh ly khai kéo dài 4 năm (1861 - 1865). Trong cuộc nội chiến này, nhờ có những chính sách tiến bộ của Linconl như cấp đất ở miền Tây cho những người di cư, xoá bỏ chế độ nô lệ da đen, nên quân đội miền Bắc đã đánh thắng quân đội miền Nam, hợp nhất hai miền.
Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln đã từng bị chỉ trích khi không nhanh chóng đàn áp được các cuộc nổi dậy ở phía Nam. Ngày 1.1.1963, Linconl đưa ra Tuyên bố giải phóng (Công ước tự do), trả tự do cho tất cả nô lệ Mỹ, nhưng những người Mỹ ở miền Nam không tuân theo đạo luật này cho đến khi họ thua trận. Tuyên bố này của Lincoln đã xoá đi những cách biệt về tôn giáo, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội... giữa miền Nam và miền Bắc.
Sau cuộc chiến Gettysburg khốc liệt, Lincoln đã có một bài diễn văn ca ngợi những người lính tử trận, những người mà theo ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho chính phủ, cho nhân dân và vì hoà bình, độc lập và tự do. Sự hy sinh đó phải được đền đáp và chính phủ do nhân dân gây dựng và giữ gìn sẽ không bao giờ mất đi trên đất nước này.
Có thể nói sự nghiệp của Lincoln có ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Mỹ và là tấm gương cho hàng triệu người trên thế giới. Năm 1864, được sự tín nhiệm của nhân dân ông đã tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (1864 - 1868). Ông đã đề ra một kế hoạch hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế thời hậu chiến. Nhưng kế hoạch còn đang dang dở thì ngày 14.4.1865, trong một buổi dạ hội long trọng tại thủ đô Washington, ông đã bị những kẻ cuồng tín ở miền Nam ám sát, để lại sự tiếc thương vô hạn trong lòng nhân dân Mỹ cũng như nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới.
Trong hai cuộc bầu chọn về thứ bậc và ảnh hưởng của các tổng thống Hoa Kỳ, Lincoln đều xếp thứ nhất trên cả Washington - tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ và đứng đầu danh sách năm tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ. Điều này cho thấy vai trò, vị trí và tầm ảnh hưởng của Lincoln đối với lịch sử nước Mỹ là vô cùng to lớn. Ông là một vị tướng tài ba, một nhà chính trị xuất sắc, nhưng trên hơn cả là tấm lòng của ông đối với nhân dân lao động và tầng lớp bình dân nước Mỹ. 

Michael Faraday (1791 - 1867)

Michael Faraday đã trở thành một tấm gương lớn về sự nỗ lực hết mình  trong con đường nghiên cứu khoa học. Từ thân phận con trai một người thợ rèn  nghèo khó, từ một chú bé học việc trong một hiệu đóng sách, Michael Faraday  đã cố gắng học tập và trở thành một nhà khoa học lớn của nhân loại. Ông là người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng cảm ứng điện từ, đạt nền tảng cho việc  chế tạo ra máy phát điện.

Mỗi ngày, chúng ta đều mở, tắt các công tắc đèn không biết bao nhiêu lần, nhưng không phải ai cũng rõ, ai là người đầu tiên đưa lại cho chúng ta tiện ích to lớn của điện. Đó không phải ai khác, chính là Michael Faraday với sự chứng minh từ trường có thể sinh ra dòng điện. Cuộc đời nhà khoa học này quả thực là  một tấm gương lớn về sự nỗ lực vươn lên.

Michael Faraday sinh vào ngày 22 tháng 9 năm 1791, trong một gia đình thợ rèn tạo Newington, ngoại ô Luân Đôn, nước Anh. Cha ông, James Faraday  là một thợ rèn không mấy khỏe mạnh, mẹ ông là con gái một trang viên ở miền Bắc nước Anh. Michael Faraday là con thứ ba trong gia đình có bốn người con. Năm 1796, cả gia đình Faraday dọn vào sống ở nội thành Luân Đôn, nhưng sự nghèo khó vẫn đeo bám họ bởi người cha thường bị bệnh. Cả nhà ông phải sống lay lắt nhờ vào sự cứu trợ của các cơ quan từ thiện. Chính bởi gia cảnh khó khăn  như vậy mà Michael Faraday đã không thể có một tuổi thơ êm đẹp và sự giáo dục hoàn chỉnh như những đứa trẻ khác. Thời thơ ấu của Michael Faraday để lại  nhiều câu chuyện vô cùng cảm động. Chuyện kể rằng, một hôm thầy giáo và cả lớp rất ngạc nhiên khi thấy Faraday đến lớp muộn với gương mặt buồn bã, tay không mang cặp sách, Thầy giáo vội vàng hỏi: ''Có chuyện gì xảy ra với em vậy, Faraday?'', Faraday nghẹn ngào nói: ''Thưa thầy, con đến xin phép thầy nghỉ học để ở nhà trông em giúp bố mẹ, vì dạo này bố con không có việc làm, mẹ con phải đi giặt thuê để kiếm tiền nuôi gia đình''. Thầy giáo đặt tay lên đôi vai gầy gò của cậu học trò nhỏ và nói: ''Hãy dũng cảm lên Faraday! Phải bỏ học giữa chừng như vậy thật tiếc, nhưng em hãy vững lòng tin vào cuộc sống và luôn ghi  nhớ những tấm gương hiếu học của người xưa. Cái khó nhất là rèn luyện ý chí  cho bền''. Quả thật, cậu học trò thường xuyên phải bỏ học vì hoàn cảnh gia đình  ấy sau này đã trở thành một nhà khoa học danh tiếng.
Năm 1804, khi mới 13 tuổi, Faraday đã đến xin việc ở một nhà sách mang tên: ''Hiệu bán sách và đóng  sách Ribo''. Công việc ở hiệu sách này cũng tạo điều kiện để Faraday thường xuyên được tiếp xúc với tri thức. Ban đầu, công  việc của Faraday là phân phối sách báo. Sau một năm, ông được chuyển sang  học kỹ thuật đóng sách báo. Ngoài việc đóng bìa cho những cuốn sách, Faraday rất thích thú tìm hiểu nội dung tri thức bên trong của chúng. Ông chủ hiệu sách  là một người nhân hậu nên thường động viên Faraday đọc sách. Ông thường nói:  ''Đọc đi nào, Faraday! Mặc dù bảo người thợ đóng sách chỉ cần lo phần bề ngoài  của một quyển sách, nhưng cậu biết thêm nội dung của những quyển sách đó  cũng không có gì là xấu''. Niềm say mê đối với sách vở từng được Faraday ghi lại trong hồi ức của ông: ''Trong khi tôi học việc, lúc nào tôi cũng thích đọc những sách khoa học bên cạnh, trong số đó tôi thích đọc nhất là quyển Mạn đàm  về hóa học và phần luận văn về điện học trong quyển Đại anh Bách khoa toàn  thư''.
Cậu bé học việc Faraday đã bị thế giới khoa học cuốn hút từ khi được tiếp  xúc với rất nhiều sách vở khoa học. Faraday đã rất nhiều lần tự làm những thí  nghiệm theo hướng dẫn của sách. Mỗi buổi tối, sau một ngày làm việc mệt nhọc,  Faraday lại tự cho mình được quyền thưởng thức thú vui đọc sách và tự tìm hiểu  chân trời tri thức qua những trang sách thú vị đó. Ông đã viết trong hồi ký: ''Tôi đã tiến hành thực nghiệm trong khả năng phí tổn cho phép. Mỗi tuần tôi tốn mấy pence. Ngoài ra, tôi còn chế tạo được một thử máy móc dùng để học về điện.  Ban đầu thì tôi dùng những lọ pha lê nhỏ, nhưng về sau thì tôi thật sự dùng  những ống bằng đồng và những dụng cụ thí nghiệm về điện khác”. Càng tiếp  xúc với tri thức khoa học, lòng say mê khoa học lại càng trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng Faraday.
Chắc hẳn, Faraday không ngờ rằng cuộc đời mình lại có được cơ may làm  khoa học thực sự khi tham gia mấy mươi buổi thuyết trình khoa học do Hội  Triết học tổ chức. Trong suốt thời gian từ tháng 2 năm 1810 đến tháng 9 năm  1811, ông đã thực sự nghiêm túc lắng nghe, ghi chép và chỉnh lý một cách kỹ  lưỡng những bài giảng của các giáo sư. Như một sự sắp đặt, Faraday tình cờ  được người chủ hiệu sách tặng cho một tấm vé đi nghe buổi thuyết trình tại Học  viện Hoàng gia Anh, tình cờ được nghe giáo sư nổi tiếng Humphry Davy diễn  thuyết. Và ông đã biến sự tình cờ ấy thành một cơ hội lớn của đời mình khi bỏ công chỉnh lý một cách kỹ lưỡng những ghi chép trong buổi diễn thuyết ấy và bổ  sung vào đó những kiến giải riêng thú vị của ông, rồi đóng thành một quyển  sách đẹp lấy tên là: “Ghi chép về buổi diễn thuyết của tước sĩ Humphry Davy”.  Tháng 10 năm 1812, Faraday tự gửi cuốn sách này đến giáo sư Davy cùng với  một bức thư tự tiến cử mình. Hành động này đã khiến Davy rất bất ngờ. Ngay lập tức, giáo sư Davy viết thư trả lời cho Faraday: “Tôi đã nhận được tác phẩm  lớn của bạn gửi tới, sau khi đọc xong, tôi cảm thấy hết sức vui mừng. Nó đã bộc  lộ một nhiệt tình thành khẩn, một trí nhớ tốt và một tinh thần chuyên tâm cao ... Tôi rất vui lòng giúp đỡ bạn. Tôi hy vọng đây là công việc mà sức tôi có thể làm  được”. Một bước ngoặt lớn đã đến với cuộc đời của Faraday vào tháng 3 năm  1813, khi ông được nhận vào làm việc tại Học viện Hoàng gia Anh với sự giúp  đỡ của giáo sư Davy. Mặc dù trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình,  Davy đã có rất nhiều phát hiện, nhưng ông cho rằng: “Sự phát hiện vĩ đại nhất   trong đời tôi chính là Faraday”.
Từng bước một, cậu bé Faraday ngày nào đã  tiến gần hơn với vương quốc khoa học bằng chính những nỗ lực không ngừng  của bản thân. Công việc tại Học viện Hoàng gia của Faraday ban đầu chỉ là  những công việc tạp dịch như rửa chai lọ, lau bàn ghế, quét nhà. . . , nhưng  không lâu sau, ông đã nắm được kỹ thuật thực nghiệm và trở thành trợ thủ đắc  lực của Davy. Ông đã chuyển đến sống ở tòa nhà phố Albemarle Street để tiện làm việc. Sự gắn bó với giáo sư Davy đã đem đến cho Faraday cơ hội được tham gia một chuyến du  hành khoa học tới lục địa Châu Âu vào tháng 10 năm 1813. Trong chuyến đi kéo  dài 18 tháng này, Faraday đã được làm quen với rất nhiều nhà khoa học lớn như:  Marie Ampère, Count Alessandro Volta, Gay Lussac. . . và được tham quan  nhiều phòng thí nghiệm lớn. Sau này, Ampère và Faraday đã có một tình bạn  thân thiết, bền lâu. Chuyến đi này thực sự là một trường đại học đối với  Faraday. Ông đã rất chịu khó ghi chép và tích lũy kiến thức trong suốt cuộc hành  trình. Tháng 4 năm 1815, sau khi trở về, Faraday được thăng lên chức Trợ thủ phòng thí nghiệm kiêm quản lý viên tiêu bản khoáng vật, kiêm tổng quản thiết bị và dụng cụ thí nghiệm. Công việc trở nên vất vả hơn song không vì thế mà Faraday sao nhãng việc tự nghiên cứu. Vốn kiến thức mà ông tích lũy được  trong suốt thời gian này là nền tảng để Faraday tiếp tục đi sâu hơn vào con  đường nghiên cứu khoa học.
Lần đầu tiên Faraday viết một luận văn khoa học là vào năm 1816, dưới  sự chỉ đạo của Davy. Ông vẫn luôn xúc động khi nói về bản luận văn đầu tiên  của mình: “Đây là lần đầu tiên tôi thử bàn về vấn đề hóa học, và lòng sợ hãi của  tôi còn to lớn hơn là lòng tự tin. Hơn nữa, cả hai tâm trạng đó lại lớn hơn cả tri  thức của tôi. Lúc bấy giờ, tôi không thể tưởng tượng được là mình có thể viết  một bài luận văn khoa học mà trong đó có nhiều sáng kiến như vậy. Từ sự thành  công của bản luận văn đầu tiên, Faraday tiếp tục dấn thân vào con đường nghiên  cứu với nhiều bản luận văn khác. Chỉ trong hai năm 1817 và 1818, ông đã có tới  mười bảy bài luận văn phân tích hóa học. Con số này cho thấy tri thức đồ sộ mà  Faraday đã tự tích lũy được trong suốt quá trình tự học của ông. Nó cũng khẳng  định ông là một người có khả năng nghiên cứu độc lập. Từ thân phận một người  giúp việc, Faraday đã tự nâng mình lên thành một nhà khoa học thực thụ bằng chính năng lực của bản thân ông.
Cuộc đời khoa học của Faraday có rất nhiều  đóng góp, đặc biệt là sự đóng góp trong hai lĩnh vực: hóa học và vật lý. Mỗi  chặng đời của Faraday gắn  liền với một lĩnh vực khoa học. Trước năm 1830, do ảnh hưởng của Davy, Faraday chủ yếu theo đuổi việc nghiên cứu hóa học. Trong giai đoạn này, ông  nghiên cứu và có nhiều phát hiện cả về lĩnh vực hóa học hữu cơ và hóa học vô  cơ. Từ năm 1818 đến năm 1823, ông nghiên cứu chế tạo ra một loại thép hợp  kim. Trong quá trình nghiên cứu để phục chế lại loại thép Wootz - một loại thép  của Ấn Độ được mệnh danh là tốt nhất lúc bấy giờ, Faraday đã sáng tạo ra  phương pháp phân tích kim loại. Năm 1825, Faraday lại bắt tay vào việc nghiên  cứu loại khí thể dùng để chiếu sáng cho thành phố Luân Đôn. Loại khí này được  đặt tên là khí Clo. Từ năm 1824 đến năm 1831, theo yêu cầu của Học viện Hoàng gia, Faraday tập trung nghiên cứu vấn đề kỹ thuật sản xuất pha lê quang  học. Ông đã chế tạo ra một thử pha lê nặng, về sau được dùng để nghiên cứu  hiệu ứng xoay chuyển của quang từ. Trong lĩnh vực hóa học hữu cơ, ông đã xác  lập được công thức hóa học của Nạp - ta - len. Cuốn sách lớn nhất của Faraday  trong lĩnh vực hóa học là cuốn Thao tác hóa học gồm hơn sáu trăm trang, xuất  bản năm 1827. Đây cũng là cuốn sách giáo khoa duy nhất mà Faraday đã viết.
Suốt thời trai trẻ, Faraday chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu khoa học  mà không màng tới việc lập gia đình. Điều đó cũng còn một lý do khác nửa, đó  là quan niệm về tình yêu rất kỳ lạ của ông. Ông từng viết trong một cuốn nhật ký  những lời lẽ đầy châm biếm như sau: ''Cái gì gọi là tình yêu? Ngoài đương sự ra  nó là thứ mà mọi người đều chán ghét''. Ông cho rằng tình yêu sẽ khiến con người tiêu tan ý chí, sẽ cản trở con người thực hiện mục tiêu cao cả của mình.  Nhưng mùa xuân năm 1820, khi gặp Sarah Barnard, Faraday đã thay đổi suy  nghĩ. Hai người gặp nhau khi đi lễ nhà thờ và ngay lập tức, Faraday yêu say đắm  cô con gái gia đình thợ bạc ấy. Ngày 12 tháng 6 năm 1821, họ tổ chức một lễ  cưới giản dị và sống hạnh phúc bên nhau, dù không có con cái. Sarah là một phụ  nữ nhân hậu, không đam mê tiền bạc, hư vinh. Faraday từng thổ lộ với người vợ  yêu quý của mình rằng: ''Em là người hiểu anh hơn cả anh. Em biết những thiên  kiến trước kia của anh và cũng biết được những suy nghĩ của anh hiện nay, em hiểu được nhược điểm của anh và toàn bộ tư tưởng của anh. Em đã giúp anh  thoát khỏi con đường sai lầm, giúp anh hy vọng, và em còn tiếp tục uốn nắn  nhiều sai lầm khác của anh nữa''. Cuộc sống gia đình hạnh phúc khiến Faraday  có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu khoa học mà không phải bận tâm lo lắng  điều gì.
Thời kỳ mà Faraday đạt nhiều thành quả khoa học nhất là từ năm 1830  đến năm 1839. Trong khoảng thời gian này, ông bắt tay vào việc nghiên cứu kỹ  càng lĩnh vực vật lý mà cơ bản là phần điện học hiện đại. Thực ra, Faraday đã  quan tâm đến vấn đề điện từ học từ những năm 1821. Sau khi nhà vật lý học  Đan Mạch H. C. Orsted phát hiện về hiệu ứng từ của dòng điện, các nhà vật lý  đua nhau tập trung vào hướng nghiên cứu điện từ. Faraday cũng là một trong số  đó. Ngay trong lễ Giáng sinh năm 1821, Faraday đã công khai biểu diễn thí  nghiệm về hiện tượng “điện từ xoay chuyển” và từ đó, ông trở nên nổi tiếng  trong lĩnh vực điện học. Nguyên lý xoay chuyển điện từ của Faraday chính là  nguyên lý của một máy phát điện. Faraday đã suy nghĩ theo hướng ấy, ông cho  rằng: nếu điện có thể sinh ra từ lực thì từ cũng có thể sinh ra điện. Năm 1822,  ông ghi trong sổ tay của mình khẩu hiệu: “Biến từ thành điện”. Từ đó trở đi,  Faraday bắt đầu mò mẫm tìm hiểu vấn đề đó bằng phương pháp thực nghiệm.  Rất nhiều lần Faraday làm thí nghiệm và thất bại nhưng không vì thế mà ông  nản lòng. Ông suy nghĩ một cách rất logic rằng thế giới là hài hòa và thống nhất,  do đó, điện và từ nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau. Trong suốt thời gian tiến hành các thí nghiệm, Faraday không phải không có lúc thiếu tin tưởng, ông đã  viết thư cho một người bạn với những lời lẽ như sau: “Tôi đang bận rộn nghiên  cứu về điện từ học. Tôi nghĩ, tôi có thể vớt lên được một thứ đồ gì đó đáng giá,  nhưng cũng không dám chắc. Tôi vẫn có thể tốn rất nhiều sức lao động, để vớt  lên không phải là một con cá mà là một nắm thủy tảo''. Và kết quả mà ông tìm kiếm được còn hơn cả một ''con cá'' - nói theo cách của ông. Sau gần mười năm  nghiên cứu, ngày 17 tháng 10 năm 1831, Faraday đã thành công trong việc  chứng minh từ lực có thể biến thành điện lực bằng việc sử dụng nam châm vĩnh  cửu tạo ra dòng điện. Hiện tượng cảm ứng điện từ và cỗ máy phát điện đầu tiên  đã được phát hiện ra như vậy.
Ngày 24 tháng 11 năm 1831, Faraday báo cáo  trước Học viện Hoàng gia về vấn đề phát hiện cảm ứng của điện từ. Bài luận văn này đã trở thành một tác phẩm lớn gồm ba quyển nhan đề: Nghiên cứu thực nghiệm điện học. Ngay lúc  đó, người ta chưa thể hình dung được tác dụng to lớn của phát hiện này. Tương  truyền, có người đã hỏi Faraday: Sự phát hiện này được dùng vào đâu? Rất  nhanh trí, Faraday hỏi trở lại: ''Đứa trẻ mới sinh ra được dùng vào đâu?”  Faraday đã được nhận bằng khen của Học viện Hoàng gia Anh vì phát hiện lớn  này.
Thành công đó không đủ làm thỏa mãn Faraday trên con đường nghiên  cứu khoa học của mình. Năm 1834, Faraday nêu ra hai định luật điện giải mang  tên ông, đặt cơ sở lý luận cho các ngành công nghiệp điện - hóa. Các danh từ  khoa học như: âm cực, dương cực, chất điện phân, điện tích âm, điện tích  dương ... vẫn được dùng cho đến ngày nay. Từ năm 1835, Faraday nghiên cứu  tĩnh điện. Năm 1838, ông lại tiếp tục nêu ra hai khái niệm: từ trường điện,  đường sức.
Năm 1839, sức khỏe của Faraday bị giảm sút nghiêm trọng do ông làm  việc quá sức, lại phải tiếp xúc thường xuyên với các hóa chất độc hại đặc biệt là  thủy ngân. Ông buộc phải đến vùng núi Alps ở Thụy Sĩ để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Thời gian này, ông đã viết rất nhiều nhật ký và sưu tầm nhiều tiêu bản  thực vật. Ngoài ra, ông vẫn để tâm suy nghĩ đến vấn đề hóa lỏng chất khí và đạt  được một số thành công. Năm 1844, khi sức khỏe đã khá lên, Faraday lại tiếp  tục nghiên cứu thực nghiệm và phát hiện ra hiệu ứng ánh sáng xoay khi có từ  trường. Sự phát hiện này đã chứng minh mối liên quan giữa ánh sáng và từ  trường. Tháng 11 năm 1845, Faraday lại có một phát hiện mới về tính chống từ  trường của vật chất qua thực nghiệm. Qua nhiều lần thực nghiệm, Faraday đã  chia vật chất thành hai loại: một loại ở thể thuận từ (như: sắt, kền, cô - ban. . .), còn một loại ở thể kháng từ.
Như vậy, có thể nói, trong lĩnh vực điện học, Faraday đã có rất nhiều  đóng góp lớn như: dùng thực nghiệm để chứng minh điện tích là trường tồn,  phát hiện hiện tượng tự cảm ứng, phát minh điện áp kế để trắc lượng điện áp. Theo thống kê, những phát minh, phát hiện và cải tiến trong điện học của  Faraday lên đến 158 hạng mục. Những cuốn nhật ký của Faraday cũng được  đóng thành sách gồm có 3236 trang. Năm 1932, Học viện Hoàng gia Anh đã cho xuất bản những cuốn nhật ký này thành 7 cuốn lớn.
Cuộc đời Faraday là cuộc  đời của một nhà khoa học đích thực. Ông không hề quan tâm đến tiền bạc cũng  như danh vọng. Ông đã bỏ qua nhiều cơ hội để trở nên nổi tiếng, ví dụ như năm  1857, Học viện Hoàng gia Anh bầu ông làm hội trưởng nhưng ông từ chối. Một  lần khác, ông lại từ chối việc phong tặng danh hiệu Hầu tước của triều đình. Ông  nói: “Tôi vinh dự làm một người bình dân, không muốn trở thành quý tộc”. Lối sống khiêm nhường ấy đã khiến  rất nhiều người nể phục Faraday. Ông thường trả lời bạn bè mỗi khi họ thắc mắc  về những lần từ chối danh vọng rất đáng tiếc của ông rằng: “Từ trước tới nay, tôi  chưa từng làm việc để theo đuổi những vinh dự như vậy''.
Ngoài thời gian dành cho khoa học, Faraday không hề tiếc thời gian dành  cho việc giảng dạy. Với ông, đó không chỉ là một niềm vui mà còn là một trách  nhiệm to lớn. Ông là người thầy có trách nhiệm rất cao. Ông luôn để ý từng chi  tiết một trong buổi giảng dạy của mình, dù đó chỉ là những vấn đề ngoài lề như:  vấn đề thông gió cho lớp học, vấn đề chiếu sáng hay vấn đề âm vang ... Faraday  cũng rất quan tâm đến vấn đề phương pháp giảng dạy. Ông cho rằng khi giảng  bài phải thực nghiệm để xây dựng hình tượng trực quan. Trong một bức thư gửi  bạn, ông viết: “... để hấp dẫn thính giả, cần phải chú trọng nhiều về phương thức  diễn giải, nói chuyện đừng quá mau, đừng quá vội để tránh lộn xộn không rõ  ràng. Người giảng bài cần phải chậm và có tiết tấu, diễn đạt tư tưởng một cách nhẹ nhàng, làm cho tư tưởng của mình đi vào đầu óc của thính giả một cách rõ  ràng, lưu loát”. Cho tới tận ngày nay, Học viện Hoàng gia Anh vẫn duy trì  những nguyên tắc giảng dạy mà Faraday đã đề ra bằng kinh nghiệm và lòng tận  tâm với công việc của ông.
Năm 1824, Faraday bắt đầu giảng dạy tại Học viện Hoàng gia Anh. Năm  1825, ông mở một lớp gọi là “Buổi giảng bài tối thứ sáu” hằng tuần. Cho tới  năm ông nghỉ hưu, năm 1862, Faraday đã thực hiện hơn 100 lần giảng dạy theo  kiểu này. Nội dung diễn giảng rất rộng, gồm có điện, từ, lực tuyến, máy dệt tơ  chạy bằng điện, chế tạo đá quý nhân tạo, vấn đề thông gió dưới hầm lò, đèn  chiếu sáng, công nghệ mạ bạc trên kính, công trình đường hầm. . . Thính giả đến  nghe Faraday diễn thuyết luôn ngồi chật cả khán phòng. Người ta không chỉ bị  thu hút bởi những tri thức mới mẻ mà Faraday mang lại mà còn bị hấp dẫn bởi  cách thức diễn giải thú vị của ông. Faraday thường để cho các thính giả tự do cắt  ngang lời ông để hỏi, thậm chí có thể cùng lên bục giảng để tranh luận. Ngoài các buổi giảng dạy vào tối thứ sáu như trên, Faraday còn tổ chức một hoạt động  thường niên vào các lễ Giáng sinh hằng năm. Ông đã duy trì được ''Buổi nói  chuyện khoa học cho thiếu niên nhân lễ Giáng sinh'' trong suốt 19 năm. Những  buổi giảng dạy mang tính chất phổ thông như vậy của Faraday đã phổ cập tri  thức cho rất nhiều người. Dù không đào tạo một người học trò nào để kế nghiệp,  cũng không xây dựng học phái của riêng mình nhưng thực sự, Faraday đã là người thầy của một số đông nhân dân. Bài diễn giảng nổi tiếng nhất của ông là  “Lịch sử hóa học của cây nến”. Bài giảng này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và còn được lưu hành cho đến ngày nay.
Không chỉ là một người thầy vĩ đại của số đông, Faraday còn là một con  chiên ngoan đạo của giáo phái Sandemanians. Đây là giáo phái mà cả ông và  người vợ của ông đều tin tưởng tuyệt đối. Dù là một nhà khoa học thực nghiệm  nhưng Faraday không hề bác bỏ tôn giáo. Với ông, tôn giáo và khoa học chẳng  hề trái ngược nhau. Nếu khoa học đối với ông là niềm đam mê thì tôn giáo lại là  sự sùng kính thành khẩn. Bất kỳ chủ nhật nào, hai vợ chồng Faraday cũng đều đi  lễ nhà thờ rất đúng giờ. Năm 1860, khi đã già, Faraday được bầu làm trưởng lão  của giáo hội, tham gia chủ trì nghi lễ và giảng đạo.

Cuộc đời của Faraday đã trải qua rất nhiều thăng trầm nhưng là một cuộc  đời chân chính. Những gì ông để lại cho nhân loại là vĩnh cửu. Đúng như một  nhà bác học người Đức đã nói: ''Chừng nào loài người còn cần sử dụng điện thì  chừng đó mọi người còn ghi nhớ công lao của Michael Faraday''. Dù là người  của mọi thời đại, Faraday vẫn giữ đức tính khiêm nhường của ông cho đến lúc  qua đời Ngày 25 tháng 8 năm 1867, Faraday đi vào cõi vĩnh hằng một cách nhẹ  nhàng trên chiếc ghế của ông. Ông được an táng tại công mộ High Gate. Trên  bia chỉ khắc họ tên như những người bình thường khác mà không hề có lời lẽ  nào dài dòng. Đó chính là ước nguyện của ông - được làm một người bình  thường cho đến lúc chết. Song dù thế nào đi nữa, Michael Faraday cũng không  hề là một người bình thường của nhân loại.

Danh Ngôn

Quảng cáo

Chuye giay dep tre em Giày dép trẻ em Giay dep tre em Sale domain

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 ĐỨC VINH